Friday, 11/09/2020 - 01:27:57
Font-Size:

Về ông Thiệu, sau 75

Advertising

Bài LÝ KHÁNH HỒNG

Với niềm tiếc nuối của ngày “đủ lớn” để nhận ra mối thâm tình là cái quý báu còn lại trong giao tiếp.

Nhất là những giao tiếp với ….những người tôi đã cùng họ...

 

Bằng những tình cờ lịch sử, trước năm 1975, ông Kim Thanh, một trí thức và là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã gặp và biết Hoàng Thân Sirik Matak.

Trước 75.

Để có loạt bài cực hay. Sau 75. “Phnom Penh, Ngày Ấy Còn Đâu?” (1)

Một bài, theo tôi là một mẫu khác của “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” mà nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã mở nẻo cho chúng ta.

Lần này. Lịch sử có dính tới vận mạng các nước nhỏ như Việt Nam, Cambodia..., cũng như số phận của nhiều người lãnh đạo các nước đó.

Trong chiến tranh trước 1975 và trong những giao tiếp với các cường quốc Tây phương. (Phần III. Sirik Matak, bài đã dẫn.)

Tôi, cũng do tình cờ lịch sử, sau năm 1975, đã gặp cái người thứ hai trong câu ông Kim Thanh viết về họ: “Một số phận, hai nhân vật.”

Ngay sau đoạn ông so sánh bức thư của ông Sirik Matak: “Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn VănThiệu….” (1)

Vâng. Là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi gặp và làm việc với ông Nguyễn Văn Thiệu. Thời điểm. Sau 1975.

Tôi, trong điều kiện hiểu biết hạn hẹp. Khả năng viết lách không mấy thích hợp, thiếu tròn trịa, không vừa vặn cho một bài cần phải viết này.

Nhưng trong tinh thần đem tâm tình… muốn cùng ông, tác giả Kim Thanh, viết về sự thật. Để kể lại.

 

Tâm tình của một người, trong những người bỏ nước

 

30 tháng tư, cả nước đua nhau. Bỏ nước, ra đi.

Đủ cả. Không thiếu một ai. Quân, dân, binh, tướng. Đủ mặt.

Bỏ nước!!

Là tướng, những Lãnh Tướng một thời, ông Kim Thanh ưu ái dành cho một tên gọi riêng, văn hoa, theo cách chơi chữ (Ông có chữ. Nên ông chơi... chữ.) “Lỉnh” tướng. Từ Lãnh tướng thành Lỉnh tướng.

L-I-N-H và dấu hỏi (ông ghi chú.) Lỉnh tướng là (những vị) tướng bỏ trốn. Ông nhấn mạnh.

(Thằng củ bựa lại lỉnh đi đâu mất rồi! Thí dụ của tôi. Muốn thêm cho rõ.) Và để hiểu rõ cái ý của ông Kim Thanh. Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, trang 484.

Lãnh: cổ áo, cái áo; Thống suất cả…

Lãnh tụ: Cổ áo và tay áo. (Khi cởi áo, tất trước cầm cổ áo và tay áo;) người có tài xuất chúng làm thủ lãnh cho nhân chúng. tr.485.

Nên, lãnh tướng: Tướng thống suất cả... đạo binh.

Còn lỉnh, tiếng Nôm. của người mình.

Hơn ai hết, là người phương Đông, ông Kim Thanh có vẻ dựa nhiều vào cái thuyết Chính danh, cái thuyết mà với nó: “Quân quân, Thần thần. Phụ phụ, Tử tử,”

Vua phải ra vua, tôi phải ra tôi. Cha ra cha, con ra con...

Cái gì phải ra cái đó. Tướng phải ra tướng.

Tôi chịu cách rầy rà này, của ông Kim Thanh, như một người hiểu chuyện. Người lớn.

Kết tội ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Kim Thanh lại như một nhà làm văn học.

Từ cái thư, như một áng văn chương. Viết bằng tiếng Pháp… Ông dùng làm chứng cớ.

Về người. Một bên, một người thanh nhã, xương xương. Trí thức.

Mà hành động cứng rắn.

Ông nêu ra,... thái độ “ khẳng khái “từ chối lời mời của Đại sứ Mỹ. Qua bức thư. Và cái bi thảm cuối cùng của một người lãnh đạo một đất nước bại trận. Chỉ còn “chết theo thành.” Chỉ con đường đó. Không hề có một thứ ‘Lối rẽ nào!’

Một bên khác, Tướng lãnh, Làm tướng lại không cứng rắn. Sao đáng để làm tướng. (Người lính thú còn có bổn phận, vô cớ còn bị nhân gian réo tên “Thân không là lính thú sao không về cố hương!” Là lính thú, nên phải xa nhà.)

Còn tướng. Sao bỏ nước!

Chuyện trước 75.

Sau 75,...

Tôi gặp, ngồi cùng, nói cùng, làm việc cùng ông Thiệu:

Phải thưa ngay. Tôi biết ông Thiệu. Trước đây.

Dĩ nhiên. Vì ông ấy là Tổng Thống của chúng ta . Một thời.

Ông Thiệu thì chưa hề biết gì về tôi, trước khi ông ấy để ý đến tôi. Tôi muốn nói là khi ông ấy gặp tôi. Ông ấy muốn gặp tôi.

… Một ngày. Ông anh, mà là anh của nhà tôi, ghé nhà. Anh cho biết ông Tổng Thống Thiệu muốn gặp tôi.

Gặp gỡ... Đi vào công việc…

Tôi nhận lời, gia nhập vào tổ chức (“của ông” Thiệu) / có ông Nguyễn văn Thiệu. Tổ chức, ông “ hứa với chúng tôi.” Tổ chức mà chúng tôi tình nguyện cùng ông thực hiện…

Bằng vào thái độ hiện nay của ông ấy. Biết nhận mình thất bại.

Lại muốn lao vào cuộc, sau những… bẽ bàng của

“Một đời người u uất nỗi chơ vơ.

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị…”

(Vũ hoàng Chương.)

Nên biết phải cần đến sửa đổi.

Chỉ cần ông ấy chịu sửa đổi.

Thời thế bắt thế. Làm lại…

Làm lại. Từ cái thế ông có. Cái chúng tôi mong chờ ở ông.

Và,…

Ông ấy sửa đổi thấy rõ.

Nhớ lại coi.

Lúc bỏ chạy. Ông ấy qua Đài Loan. Rồi nước Anh. Tuyệt nhiên, không ai thấy ông làm gì. Tôi nhớ, lúc ấy phong trào cứu trợ thuyền nhân của đồng bào mình, có ai đó tiếp cận được ông, thật giả không rõ. Nhưng họ cho biết lời họ yêu cầu xin ông đóng góp đã không được trả lời. Ông bặt vô âm tín với chúng ta. Ông im ắng hoàn toàn.

Bỗng nghe tin ông ở Mỹ!

Bài diễn văn ông ấy đọc trước khi bỏ nước ra đi, người viết Kim Thanh đã có ghi lại một phần cho chúng ta. Nó không thâm thúy như bức thư của vị Hoàng Thân Sirik Matak của xứ Chùa Tháp. Nhưng cũng khó cho ông muối mặt để đến ở cái xứ mà ông thẳng thừng nói: “Bây giờ có ai còn tin được người Mỹ,…”

Nó có khác gì cái ý nghĩ trong thư của người quý tộc Khmer. Có chăng, nó thẳng thừng hơn.

Mà, càng thẳng thừng. Có phải càng lộ liễu. Khó cho ông chứ…

Nhưng khác với ông Sirik Matak là, rồi… ông Thiệu lại ở Mỹ.

Rồi… ông “chộn rộn.”

….

... Ông TT Thiệu, không rõ bằng cách nào, hay nay cần một con tốt, chỉ với vai trò con tốt, con tốt nào cũng được, miễn đẩy được qua sông,…

Là tôi, ông chọn tôi và muốn tôi kéo theo nhiều anh em trẻ. Muốn chúng tôi tạo được nhiều hoạt động.,…Và sẽ là những… của Tổ Chức tương lai…

Tôi nhận lời.

Vì những gì mà ông yêu cầu tôi. Tôi đã và đang làm. Có chăng là chỉ với quy mô nhỏ, của cá nhân tôi, anh em tôi.

Bởi điều ông muốn tôi làm cũng trùng hợp với những gì tôi cố với tới.

... Ông giới thiệu tôi với “Bộ Chính Trị” của các ông.

Tôi, lần đầu gặp “Phụ Tá Ngân,” người nổi tiếng nhiều quyền lực dưới trào TT Thiệu. Ông là tay hòm chìa khóa, là người deal với các Dân Biểu, Nghị Sĩ đối lập. Ông rất nổi tiếng, khi lo việc nước.

Rất nổi tiếng, nhưng ít người biết ông.

Trái lại, những người làm việc với ông. Ai cũng popular, sáng sân. Như luật sư Khuất Duy Trác, Luật Sư Văn Phòng Quốc Hội, cũng là Tổng Thư Ký báo Dân Chủ tờ báo của Đảng Chính Trị (Dân Chủ,)... có ông Phụ Tá Ngân và công dân Nguyễn Văn Thiệu trong đó.

Ông Phụ Tá chạy theo không bén được gót của người cộng sự. Về vụ nổi tiếng. Duy Trác nổi tiếng hơn. Dù sếp lớn, là người dành nhiều ưu ái, nhiều đãi ngộ của ông cho ông Duy Trác. Nhưng cái thầm lặng mà ông có. Cái đó, làm ông Phụ Tá “Đặc Biệt.”

Ngân nổi tiếng là người của Huyền Thoại.

Ông đối với người của mình như một người anh với đám em. Đến như ông Duy Trác mà ông còn cứ phải lo ông ấy không đủ sống.

Ông Tổng Thư Ký Viện Giám Sát. Với ông. Vẫn như người học trò cũ.

Chạy tiền cho ông này đi... chơi, thù tiếp những bạn địa phương xa về Thủ Đô.

Nhưng với việc nước, những việc ông phải cáng đáng, làm ông thường khi không mấy được lòng, nhiều người. Nhiều, chứ không phải ít, có khi còn có người để lòng thù, nữa là khác. Nhất là nhiều người muốn đến gần ông Tổng Thống. Mà, vướng ông!

(Nhắc đến ông Duy Trác tôi nhớ đến Sĩ Phú. Sĩ Phú và chút hơi hướm của ông Thiệu. Chả là,...

Tôi quen Sĩ Phú vào thời anh bị cất micro, hết được hát; xếp áo bay, “thắt lại khăn tím,... em đan.” Không phải để hát bài “ Một chuyến bay đêm.” Hay “ Tuyết trắng.” Mà là bị đày ra Phan Rang. Phi trường Phan Rang.)

Còn tôi, là lúc rời đơn vị (Quân Đội) ra cái chỗ được coi là “Quê ông Thiệu.” (Chả dính gì, chuyện ông Tổng Thống và tôi, về sau 75.) Lúc đó là cái lúc trước 75, tôi bắt đầu cho mộng ước lớn. Sống với ước mong sự hoạt động trong sản xuất, trong kỹ nghệ rồi đây, sẽ đưa tương lai mình cao hơn,… đóng góp cho đất nước nhiều hơn.

Tôi cũng lần đầu gặp ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu Thủ Tướng, một “bon Papa” miền Nam, xuề xòa.

Ông dành cho tôi nhiều thiện cảm. Cùng với ông, một người tôi biết rất thân cận với ông Thiệu về phía các quân nhân, Tướng Nguyễn Khắc Bình, cũng cho tôi thấy cái thiện cảm ông dành cho tôi. Dù tôi chưa hề có quan hệ nào với ông, trong công việc, cũng như ngoài đời .

Hai mối thiện cảm làm tôi vững tin, tôi có hai mối nối tốt đẹp với hai đám đông “cơ hữu” của các ông. Những người của Việt Nam Cộng Hòa cũ.

Khi cần nâng cái qui mô công việc cho kịp với thời cuộc, với dự trù…

Tôi được gặp Bác Sĩ Nguyễn Đình Lý, nhân sĩ, đảng phái chính trị, trí thức Công Giáo gốc Huế; gặp ông cựu Tổng Thư Ký Giám Sát Viện, (là nhà văn Lôi Tam, từ đó, anh em Nhân Văn được sự góp sức rất to lớn, không chỉ riêng anh mà còn cả chị.)

Làm việc “đảng,” tôi làm việc với anh ấy nhiều. Và tôi cũng làm anh, (phải kể thêm chị ấy vào đây,) tốn tiền riêng, nhiều, chứ không phải ít, khi làm việc chung.

….

 

Trong những khi làm việc với ông Thiệu

 

Tôi nhận thấy. TT Thiệu thường vẫn hay muốn nghe ý kiến của người khác, người mà ông muốn gặp, hơn là nói ý mình. Ông rất khác với nhiều người tôi có dịp gặp.

Ông có cái cách nghe người khác làm cho người này có cảm tưởng chính mình đã là người có ảnh hưởng lớn lao đối với ông. Cũng như những quyết định được thông qua vốn là những ý kiến của mình. Ông ấy chỉ nghe qua, nhận là đúng. Như một trùng hợp. Thế thôi.

Ít ai nghĩ rằng có thể ông ấy cũng nghĩ như mình, trước đó.

Kinh nghiệm bản thân. Lần gặp gỡ đầu. Ông tiếp tôi.

Sau này. Tôi ‘ngộ’ ra. Chẳng qua, là ông nhìn và hiểu được người ông tìm tới. Không phải ông rất chủ động đó sao.

... những ý kiến của mình. Ông ấy chỉ nghe qua, nhận là đúng. Như một trùng hợp. Thế thôi. Ít ai nghĩ rằng có thể ông ấy cũng nghĩ như mình, trước đó.

Như một trùng hợp. Thế thôi ư?

Còn nữa.

Nhìn ông ấy ngồi nghe những đồng bào” “vừa vượt biên qua,” được giới thiệu, để tường trình về những gì “mắt thấy tai nghe.” Tôi thật sự bái phục cái mức nhẫn nại, cái thái độ trọng người đối diện, cái mức kiểm soát lấy mình, không để lộ sơ hở, hay để lộ cái thô thiển.

Tôi không thấy cái lối bốc đồng, coi thường người khác khi cùng làm việc với ông TT Thiệu.

Mắt thấy tai nghe , đồng bào vừa vượt biên, đâu chỉ có một người.

“Những điều trông thấy”… mà đau đớn lòng, cũng nhiều nhỏi gì cho cam. Nghe hoài cũng trùng lặp. Mà vào việc. Đâu chỉ gặp một người.

Đến một địa phương. Đến hai địa phương. Âu cũng từng ấy việc.

Cái cách ông ấy trọng người đối diện khi nghe bạn kể. Như nghe người đầu tiên. Đâu phải mình tôi thấy ra.

Ai có dự những buổi nói chuyện của ông ấy với đồng bào đều có dịp thấy. Chỉ có mình có nhìn ra nó, hay không muốn thôi.

Với quân nhân cũng vậy. Dù chuyện kể lại “ Điều mắt thấy tai nghe,” “ai cũng biết,” ông cũng đã biết. Ông không hề tỏ ra chán nghe, không hề ngắt lời. Nghe mà như cảm thông. Như sẽ nghe... bao lâu cũng được.

Ông tạo được sự thoải mái cho người cùng ông làm việc. Điều này, qua nhiều cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông VN, được các vị thuộc cấp gần gũi bên ông như ông Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống, Đại Tá Võ Văn Cầm, Đại Tá Vũ Quang Chiêm, Chánh Võ Phòng và Đại Tá Trần Thanh Điền, Trưởng Khối Cận Vệ. Các ông đều cho thấy sự thoải mái khi phải trực tiếp giúp việc cho ông.

Một trí thức, khoa bảng. Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng trong tường trình về các công tác ông thực hiện theo yêu cầu của TT Thiệu. Hết quyển “ Khi Đồng Minh Tháo Chạy,” rồi,... trong bao nhiêu ngàn trang sách. Có biết bao thân tình của “người nhờ và người được nhờ.” Nhờ và được nhờ cho cái công việc vô cùng hệ trọng: Cứu lấy miền Nam trước khi nó bị đổ!

Họ còn cho thấy một điều đặc biệt trong sự đối đãi ông dành cho họ.

Như một người trong gia đình.

Điều này tôi cũng có dịp biết đến. Làm việc với ông, không bao lâu, đã vậy, là một người nhỏ tuổi. Trước những vị như các ông, những người một thời hét ra lửa, mửa ra khói. Tôi không có ý tỏ ra là tôi vồn vã, vồ vập với các vị ấy. Ngay cả với ông. Dù tôi vẫn tế nhị xưng hô với ông, một điều Tổng Thống, hai điều Tổng Thống. Nhưng cái quá khứ huy hoàng của các ông, tôi “Lơ.” Tôi làm lơ. Nói theo kiểu tiếng Tây “bồi,” tôi “sans phú.” Coi như hổng có. Coi cái huy hoàng đó như “ Ne Pas.”

Đã vậy, tôi còn chơi ngặt, không hề thèm, cái chuyện hỏi tới “mấy chuyện cũ.” Không cho các ông cái quyền “par-ce que,” làm sao “cắt nghĩa” cho thằng nhỏ này nó “thủng” ra.

Tôi “bướng bỉnh,” vậy đó. Nên lễ, Tết có đến. Tôi cũng như thường.

Vậy mà ông nhớ có tôi, trong những sinh hoạt lễ, Tết, tôi đoán, là bận rộn của ông.

Năm đó. Ông gửi tôi một thiệp mừng Xuân với lời lẽ, tôi nghĩ, có chọn lựa. Không thể nói là vô tình vớ nhằm nó. Rồi gởi đại. Tôi nghĩ vậy.

Cái thiệp ông gửi cho tôi với lời lẽ: “The charm of Christmas lies in the thought that we live in the memory of our friends.”

Ông coi tôi như những người bạn ông ư!? Mà không phải bất cứ bạn nào. Phải là bạn mà “nỗi nhớ,” mà ký ức trong tôi về ông, làm ông sống….

Tấm thiệp đó, gửi cho tôi, một người, từng trực tiếp ngồi thưa chuyện với ông. Nhiều ngày, nhiều lần. Qua ngày này, tháng nọ. Một người chia sẻ với ông những ước mơ chung cho đất nước. Mà…

Ông phải gửi “nhờ chuyển cho Hồng.” Nét chữ nguệch ngoạc ngoài bao thơ.

Cái “giao tình,” giữa ông và tôi xem ra không mấy mặn nồng. Như lòng ông muốn…

Những người như tôi, mà lòng còn không rộng mở với ông! Giao thiệp như một chuyện chẳng đặng đừng, chẳng qua vì “công việc?!”

 

 

Những hẩm hiu, cô đơn khi đối diện đồng bào của ông Thiệu

 

(Những người như tôi, mà lòng còn không rộng mở với ông! Giao thiệpnhư một chuyện chẳng đặng đừng, chẳng qua vì “công việc?!”“)...

Ngồi đây, bây giờ, ghi lại những gì về ông. Tôi thương cho cái “Cô đơn rất mực cô đơn” ông gánh chịu cho cái hẩm hiu đời ông.

Cái hẩm hiu chỉ ông gánh chịu, khi đối diện đồng bào của mình.

Cái cảnh mà thi hào Vũ Hoàng Chương, hết nào là,

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa.

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh

Hay như,

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

Một đời người u uất nỗi chơ vơ

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị…

(Phương Xa, Vũ hoàng Chương)

 

Tôi e rằng chỉ đúng và chỉ dùng cho riêng ông.

Chỉ có ông, trong nỗi nghiệt ngã riêng ông. Không một ai khác chịu cái án “Quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.” Ngoài ông.

Khi đối diện cùng đồng bào. Sau 1975.

Vậy mà, thời gian đó, khoảng mươi mười lăm năm sau 75, người ta thấy. Ông Thiệu xuất hiện, hết nơi này, tới nơi kia.

Trong những lần có sự tập hợp của anh em cựu quân nhân VNCH.

Không có lần nào là không bị đồng bào phàn nàn, chê trách, đó là trong hội trường.

Như một lần. Ở miền Nam California. Hết Thiếu Tá Tài, người chỉ huy một đơn vị của Liên Đoàn “81 Biệt cách Dù“ đặc trách phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu ngày 30 tháng Tư. Một người nổi tiếng, ngày ấy. Nổi tiếng.

Do ông là Người bất tuân thượng lịnh. Không chịu đầu hàng kẻ địch, theo lịnh. Kéo quân, là những anh em mình ra đi… để thành người hùng.

Ông chất vấn. Với tư cách thay cho “anh em bên nhà”. Toàn những chuyện tuân thượng lịnh hay không!

Như: Ông đi. Th. Tá Tài hỏi. Tội đào ngũ. Có đáng xử tử hình hay không?

Người khác. Một thương phế binh, cấp bậc Thiếu Tá. Tự giới thiệu là Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút tờ báo Diều Hâu ở Mỹ. Hỏi và muốn được nghe trả lời, mà câu trả lời chỉ là Yes or No thôi. (ông nhấn mạnh.)

Khi ông đi. Có được Bộ Trưởng Quốc Phòng ký giấy cho phép? Có không? (Bằng không, thì ông đào ngũ? ý của ông?)

Một người cựu ký giả chiến trường. Ký giả D.M, với 15 năm làm báo ở hải ngoại. Và “đã theo dõi mọi hoạt động của ông (Thiệu,)” (ông cho biết.) Hỏi. Nhiều câu. Trong đó,... ông có nói, tôi nhớ rõ, sẽ trao trách nhiệm lại cho Tuổi Trẻ. Điều đó, bây giờ có không? (2)

Toàn là những chất vấn. Nghi ngờ. Khinh mạn, rẻ... rúng!

Ngoài hội trường thì còn nặng nề hơn.

Nào là Đã Đảo; nào là, tên Sát Nhân, tên hèn nhát, nào là, cút đi,…(*2)

Đồng bào biểu tình chống sự xuất hiện của ông. Tin và hình ảnh đầy trên những bản tin các đài truyền hình Hoa kỳ. Fox, CBS #5, ABC #7, NBC,…

Trở lại với “Một số phận, hai nhân vật.” mà ông Kim Thanh đề cập.

Một số phận, cùng mất nước “vì tin vào một nước lớn không đáng tin cậy.”

Hai nhân vật, Hoàng Thân Sirik Matak, Kampuchea và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Việt Nam Cộng Hòa.

Một đàng, ông Sirik Matak, uất ức, giận người (nước Mỹ,) giận mình (dễ tin người, phải nói là cả tin như ông Kim Thanh mới diễn tả đúng. Tôi biết vậy. Nhưng thôi thì dễ tin, vì Nam kỳ hay nói vậy!), chối từ sự giúp đỡ của Mỹ. Chịu thua, ở lại. Và… chết.

Một đàng, khác, ông Thiệu, cũng uất, cũng giận người , giận mình.

Dường như ông không chịu chấp nhận, không nhượng bộ, không chịu thua.

(Chấp nhận,nhượng bộ, chịu thua. Những từ ngữ với cái hàm ý, có nghĩa tương đương ý nghĩa của “appeasement” trong diễn văn Ronald Reagan đọc vào tháng 10 năm 1962 khi đề cập đến Chiến Tranh Lạnh, Cold War.

We believe in peace, but we know that appeasement does not give a choice between peace and war, only between fight or surrender.” (3)

Chỉ là, chúng ta tin vào hòa bình. Nhưng để có hòa bình, (tránh chiến tranh) mà bằng nhượng bộ, cái này không giúp chúng ta chọn lựa giữa hòa bình và chiến tranh. Mà thật ra với chấp nhận nhượng bộ, chúng ta chỉ có được chọn lựa, giữa chiến đấu hay đầu hàng!)

Từ chữ chịu thua. Tôi làm gì lôi xệch quý vị vào trận liệt chữ nghĩa, lại ngoại ngữ nữa!

Chỉ cố gắng đưa được vấn đề đúng với những suy nghĩ rất cần phải đúng.

Xin thưa. Cũng chẳng phải vì cớ gì. Lại dẫn tới ông Reagan.

Chẳng qua, ông ấy hay đề cập đến những vấn đề cốt lõi, của chọn và lựa. Ông có tiếng là Trắng hay Đen. Thế thôi.

Anh hay tôi. Anh phá sập cái tường này. (Bức tường phân chia Đông Đức với Tây Đức.) Hay anh để tôi phá. Ronald Reagan nói với Gorbachev.

 

 

Như trường hợp nêu trên. Có phải chỉ một vấn đề. Ông ấy đưa ra hai cặp chọn lựa.

Hòa bình & Chiến tranh.

Chiến đấu hay Đầu hàng.

Sao nhiêu khê vậy. Sao phải làm vậy?

Vì thực tế làm việc là vậy. Bao giờ trong cái thế giới chúng ta hôm nay.

Kể cả,.. Ngôn ngữ cũng cần có tần số thích hợp thì tín hiệu mới được chuyển tới người nghe.

Tùy theo phạm trù của vấn đề bàn thảo. Cái chúng ta đòi là cái nào.

Cho chính trị gia. Có cặp chọn lựa nào hợp cho bằng. Hòa bình & Chiến tranh. Người ta nhân danh đủ mọi thứ để chỉ kêu gọi Hòa bình. Cái xấu xa là Chiến tranh. Bỏ nó đi. (Là ta buông súng!)

Cái khuynh hướng chánh của bất cứ chính trị gia nào. Là Hòa bình.

Muôn năm.

Ronald Reagan liệt kê, Hòa bình & Chiến tranh.

Còn cặp kia. Rõ ra là cặp để người chiến binh chọn. Chiến đấu hay Đầu hàng.

Có thứ tự ưu tiên không, hay chỉ cái này và cái kia. Anh chọn cái nào.

Reagan mà tôi nói tới Trắng Đen rất mực trong chọn lựa. Là đây. Là chiến binh, làm sao có chuyện Đầu hàng!

Ông Nguyễn Văn Thiệu trong trường hợp này lựa chọn của ông ra sao?

Một chính trị gia? Một nhà quân sự, chiến binh?

Chúng ta, ngày đó, khó lòng nói được. Chỉ biết ông không ở lại, để chết như ông quý tộc Kampuchea.

Ông, vậy là, không chấp nhận cái thua, không chịu thua?

Ông có hứa, ông về với quân đội, sẽ cùng chiến đấu. Rõ ràng quá rồi!

Ông không như ông Sirik Matak.

Năm ngày sau. Ông lên máy bay. Vù qua Đài loan. Rồi ông qua Ăng lê.

Là bước thứ hai (!?)

Là,…

Tránh cái cảnh. Giống như ông Sirik Matak, từ chối lời mời của Mỹ, xin tị nạn ở Tòa Đại Sứ Pháp. Để... rồi thật thương tâm, bị người Pháp làm lơ, giao cho Khmer đỏ. Chết!!!

Ông Tổng Thống Thiệu. Như những gì mình thấy. Ông không chịu thua.

Nhưng ông có chiến đấu không. Vì nếu không. Có khác gì đầu hàng.

Cũng không thể lập lại hoài cái cliche “Di tản chiến thuật”... (Cái bảng kẽm dùng đi dùng lại hoài, được hoài.)

Sao được.

Vì di tản là còn tái phối trí, còn… này, còn… nọ,…

Ông làm sao, có làm thêm gì không mà so sánh với một người vào hoàn cảnh như ông , So sánh ông với ông Sirik Matak, người viết Kim Thanh hạ bút viết, (Ông, Sirik Matak,….) “Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu,…” (1)

Ấy là ta đã biết qua cái thê thảm đời người của ông Sirik Matak. Cái thê thảm không ai muốn. Ngoại trừ cái tiết tháo lừng lững của ông.

Là vì, Ông Thiệu đào ngũ. Theo ý ông Kim Thanh.

Ta đã theo chân ông Thiệu đến Ăng lê.

Ông ở đó. Lâu thật lâu, bây giờ mới nghe nói ông ở Hoa Kỳ.

Rồi nghe ông.

Chúng ta nghe một phát biểu của ông khi trả lời một câu hỏi ông có đào ngũ hay không?

Ông đã trả lời: Nếu tôi đào ngũ. Tôi đã không có mặt hôm nay để trả lời ông.

Mươi mười năm nay, nếu tôi đào ngũ, tôi cứ sống như vậy tôi khỏe vô cùng. Đã đào ngũ, hôm nay việc gì tôi phải có ở đây để cùng với đồng bào mình cùng nhau tranh đấu cho Tự Do của đất nước. (Trích DVD Vị Tổng Tư Lệnh; đã dẫn.)

Đến tôi, một vô danh tiểu tốt còn hối hả lao vào việc.

Nói gì ông. Một người sống với thời thế, sống với nguyên tắc. Như một người có trách nhiệm. Như ông vẫn tỏ ra, và nhất là muốn mọi người tin ông như thế, sau này.

Qua những lúc ông tiếp xúc với mọi người.

Bao giờ, bị chất vấn. Với hết “là tổng thống,” là “tổng tư lệnh,” đến “là trung tướng,” là “quân nhân.” Sao ông thế này, sao ông thế kia?

Bao giờ, sau những giải thích cũng là lời nhận tội.

Tôi với tư cách là… cuối cùng, tôi xin nhận lãnh cái trách nhiệm…

Là vì tôi ở chức vụ đó, trách nhiệm đó thuộc về tôi.

Cái lối nhận tội, lạ lắm.

Phải thấy ông ấy nhận tội của mình trước đồng bào. Những tội như rút lui bỏ vùng II, để mất vùng I, cuối cùng là cả nước “đi đong.”

Dĩ nhiên ông cũng cho người hỏi ông biết qua cách thức một quốc gia điều hành cuộc chiến ra sao theo lệ thường. Cũng là việc của Bộ Tổng Tham Mưu, của Hội Đồng An Ninh Quốc gia, của những cố vấn, phụ tá,…

Nhưng , là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh, tôi là người chịu trách nhiệm sau cùng. Tôi xin nhận tội. Đã để thất trận. Đã làm mất nước,…

Ông không chối tội. Ông nhận tội. Nhưng không hề để lộ ra cái nét khó chịu, bẽn lẽn của một người bị luận tội. Bị người khác vạch ra cái dở của mình.

Ông, như một người biết mình đã vận dụng hết khả năng, đã làm hết sức.

Nhận tội, là tội, có thể, của thuộc cấp, của bộ phận thi hành, v.v. của lý do này lý do kia,… đưa đến kết quả không như mong muốn. Ông không mặc cảm phạm tội.

Mà hãnh diện làm tròn trách vụ.

Cái trách vụ khó nhất là nhận tội. Cái tội của một bộ phận của Quốc Gia mà ông đã từng đứng đầu.

Ở ông. Trái lại. Có cái cao ngạo của một người “chí ta, ta biết; lòng ta ta hay.” Như vụ 16 tấn vàng. Ông chỉ mỉm cười nếu có ai đó cứ nhất mực tin rằng ông mang nó đi. Dù ông đã nói không.

Nhưng là quân nhân và tội đào ngũ. Ông Tổng Thống Thiệu nhất quyết không nhận.

Trong 10 năm dài đó. Làm sao ông ôm cái uẩn ức của con hùm bó rọ.

Của những oan ức thấu trời xanh. Ông có yên ổn sống?

Nếu yên ổn sống. Thì việc gì ông còn chui đầu ra cho mọi người chửi rủa?!

Mà chui ra để được nghe chửi rủa rồi thôi hay sao? Ông có định làm gì không? Tính toán gì không?

Tiếc thay. Đồng bào tôi mãi cứ muốn thấy ông có tội.

(Điều đã được ông nhận với quốc dân. Công khai.)

Mà đồng bào tôi không bao giờ, không một người. Phải. Không một người nào, hỏi đến rồi ông sẽ làm gì? Có làm gì nữa không?

Nếu được hỏi như thế. May ra chúng ta sẽ nghe trực tiếp từ ông, là ông có tính thế này, thế này,… chuyện của đất nước,…

Đến nay, ông đã mất.

Mất ông, không phải quá quan trọng như cái “mất nước, mất tất cả.”

Câu nói ông đã nói cùng chúng ta để chia sẻ ý nghĩa của cái Mất, mất nước.

Nhưng rõ ràng chúng ta đã bỏ qua cái dịp để hiểu được một người của chúng ta. Bỏ qua một cơ hội tốt nhất để có thể cùng nhau ngẩng cao đầu.

Biết đâu. Trong những gì ông tính làm cho đất nước, mà nếu, chúng ta nhận là có lý. Với thời gian và kiên trì của hết thảy chúng ta. Nếu chúng ta cùng ông ấy…

Cùng ông ấy trong một mời gọi mới.

Cũng như đã từng cùng ông ấy trong những phát biểu, những nhận xét khôn ngoan ít ai bì. Mà cũng là “chân lý.” “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.” Càng với thời gian qua. Câu nói của ông càng được chúng ta tin là “Quả đúng vậy!”

Chúng ta nở lòng nào cấm cửa ông. Không hề cho ông cái án, có sự khoan hồng. Một người có lỗi được chuộc lỗi.

Không thổ lộ được với mọi người, với đồng bào mình. Những điều mình muốn được cùng đồng bào, chia nhau cái trách nhiệm, với đất nước.

Còn nỗi khổ nào hơn!

Chưa có dịp trình bày. Chỉ mới “lộ diện”….

Ấy là nói cho riêng ông. Ông phải tủi thân chớ.

Không phải chỉ là,

Quê hương ruồng bỏ,

Giống nòi khinh.

Cái đó, giờ không đáng kể. Chỉ là cái kiếp, của riêng ông...

Mà sợ là,

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỹ.

Thử nghĩ cho ông. Ông và đồng bào ông.

Sống với nhau như nhầm thế kỹ. Còn gì để nói nữa!

Tôi… có cùng ông. Vâng, có cùng ông, làm với ông đôi ba công việc.

Nhưng tôi không thể nói thay ông. Vốn dĩ những việc đó không thể là tất cả những gì ông ấp ủ. Đã đành.

Mà tôi không phải là ông.

Tôi cũng không là đại diện.

Sao được!

Có chăng, tôi là nhân chứng, phải, nhân chứng.

Có thấy, có bàn, có làm với ông vài việc, có làm cho ông ít việc, ông yêu cầu,…

Và, là chứng nhân trong điều mà tôi đoan chắc với quý vị. Những lần công khai gặp gỡ đồng bào. Sau lưng ông đã có những manh nha làm mới… Ông chỉ không đề cập, vì thời gian tính, vì những thích hợp,vì kế hoạch, giai đoạn,… chưa cho phép. Nhưng có lẽ… vì không một người nào hỏi ông.

Bằng có ai hỏi, tôi tin ông cũng sẽ có cách. Và sẽ rất vui để phá lệ….

Tất cả những gì tôi trình bày bên trên. Tôi kể ra. Vì dính líu đến ông Nguyễn Văn Thiệu, tôi biết sau năm 75.

Tôi cố nhớ lại và kể ra chỉ vì, và sau khi đọc được, bài viết xúc tích, đầy tính thời sự kèm với những phán đoán, như là một hệ lụy phải có của nó. Bài “Phnom Penh, Ngày Ấy Còn Đâu?”

Đọc xong. Cái tình người, cái “có lòng,” của người viết, Kim Thanh, nổi bật lên như một chỉ dấu đặc biệt làm tôi cảm và tin nơi ông. Tôi không dám lạm bàn với ông về kiến thức, tôi vốn ít ỏi. Chỉ bằng tấm lòng tôi, với những chuyện có ít nhiều liên hệ với chuyện ông kể.

Để được một người có lòng như ông, có lối viết trong sáng, hấp dẩn người đọc. Một 30 tháng Tư nào khác, Ông lại có một bài viết khác. Cho thấy cái danh sách, Ông, Sirik Matak vẫn hơn những “đồng nghiệp “ của ông bên kia dòng sông Mê kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu,… ” ít ra bớt được một người.

Là ông Nguyễn Văn Thiệu. Vì nếu không lấy thành bại luận anh hùng.

Ông Nguyễn Văn Thiệu nào có thua ai!

Nó khó cho ông. Một người của văn học, uyên bác. Nói có sách, có chứng cứ. Bức thư ông Sirik Matak, một kiệt tác văn học. Một cái có thật trong văn khố. Nên nó khó cho ông.

Như cái khó tôi có, khi cố cứ cho rằng ông Võ Đại Tôn của chúng ta, ông lẫm liệt hơn một người khác được sách vở công nhận là lẫm liệt.

Khi ông một thân một mình. Lầm lũi về chống lại cái bọn bạo tàn. Dùng trí làm cho bọn chúng mắc mưu ông. Trước những thông tín viên Quốc Tế. Đông hết mức, họ mời rất đông. Vì là dịp hãn hữu, ngàn năm dễ gì có được. Cái “bọn CIA và tay sai” rồi sẽ bị Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh của chúng vạch mặt trước “toàn thể loài người,” trước “bạn bè khắp năm châu thế giới.” (Sic.)

Rằng là. Đế quốc Mỹ, bằng cách nuôi dưỡng bọn tay sai, tiếp tục chống đối Việt Nam. Vô cớ tấn công, chống một nước ngoài. Tiếp tục giữ sự thù nghịch với một nước XHCN, bằng cách đưa ông ra như một bằng chứng sống…

Cho đến khi. Ông được những người CS khuyến khích cứ nói đi. Nói thực những gì anh muốn nói. Và họ trân trọng giới thiệu ông với những nhà truyền thông quốc tế.

Ông mới dõng dạc tuyên bố; Tôi từ nước ngoài về. Không phải là tay sai của bất cứ quốc gia nào. Mà chỉ vì lòng yêu nước. Chỉ vì muốn cùng đồng bào tôi, chúng tôi chống lại cuộc xâm lăng miền Nam chúng tôi, của CS miền Bắc…

Có cái lẫm liệt nào bằng.

Vì,…

Cái giá ông phải trả cho những tẽn tò mà chúng tưởng là chúng vớ bở khi nắm được ông trong tay... Ông biết. Ông chờ đòn thù.

Cũng như khi về, ông chờ bị chúng bắt.

Những “quyền biến” khi làm việc “lớn.” Nào ai chia cùng ông. Sao ông phải về một mình!

Nhưng, ông chờ bị bắt. Ngộ biến, tùng quyền! Về để bị bắt.

Cái lẫm liệt của ông Võ Đại Tôn hơn hẳn cái mà ngàn năm nay, người Tàu xem như kinh điển của họ. Cái anh kép “tuồng.” Kinh Kha sang Tần.

Vào đất Tần với cái đoản đao lận trong người. Với cái ơn tri ngộ Thái Tử Đan. Trọng mình hơn trọng cái đẹp. Cái đẹp của bàn tay đẹp. Bàn tay của người đẹp mà Thái Tử Đan yêu mến…

Sao bì được với cái cố sống, mang cái mạng mình và khổ ải sẽ có, của ông Võ Đại Tôn, như một đáp ứng lòng tin, “Niềm tin,” của những người tin mình.

Còn như là bằng chứng để tố cáo tội xâm lăng của Bắc Việt, và... để tỏ lộ được lòng yêu nước của chúng ta…

Sao mà bì được với ông Võ đại Tôn. Dù cái ông Kinh Kha này có trong sách vở…! Hàng ngàn năm. Mà còn là văn hóa nước Tàu. Và mới đây, điện ảnh Tàu nội địa còn vực dậy. Như một khuôn mẫu…..

Nó khó cho ông, nên …với tư cách một người cũng cùng với ông, mong sống trong những tốt đẹp,…chung.

Tôi chỉ xin ông. Cũng chỉ một điều đó! Điều đó thôi…

Ông Nguyễn Văn Thiệu nào có thua ai. 

Lý Khánh Hồng.
Viết trong ngày 30 tháng Tư (2020)

*

(1) “Phnom Penh, Ngày Ấy Còn Đâu?” Kim Thanh. On-line.

(2) DVD Quảng Trị, Trận thư hùng Nam Bắc, Dĩa 3, Vị Tổng tư lệnh, IRCC, hội phi lợi nhuận. Phạm phú Nam thực hiện. www.VietSanJoseMuseum.com.)

(3) John Harmer, “Reagan: Man of Principle” , p.9, Council-Press. Published by Cedar Fort Inc. (Sách ký tặng cho người viết bài, của tác giả Harmer. Khi con tôi có những hoạt động chung với con gái của tác giả J. Harmer. Cám ơn con Th.D.)

Advertising
Advertising
Bình luận
Lý khánh Hồng đã nói: Kính ông Vô Ngã Phạm khắc Hàm. Kẻ hậu sinh vô cùng bối rối khi biết mình đã vô tình múa may trước một bậc Trưởng thượng tuổi cao. Dê cỏn buông sừng hút dậu thưa. Chỉ còn trông vào cái thành thật của mình. Giúp cho được có sự khoan hồng, tha thứ bọn tiểu tử...làm liều. Mong lắm thay. Mong cái lòng bao dung của bậc trên trước
Vô Ngã đã nói: Ta đã già, quá già,// Chín mươi hai bó,// Nhưng ngày ngày, nghe tiếng hát Quan Họ,// Nghe câu hò Ví Dặm Nghệ Tĩnh,// Vẫn buồn, thao thức,không nguôi.// NGƯỜI, hỡi NGƯỜI,// Lòng ta thương biết mấy,// Gửi về NGƯỜI,// Tiếng hát mãi không thôi.// Hãy cố lên, vượt qua bão táp// Chân trời vẫn sáng,// Vẫn vui tươi...//
Vô Ngã Phạm Khắc Hàm đã nói: Người viết tự hứa sẽ đọc bài "Nguyễn Văn Thiệu, sau 75", lần THỨ BA, nhưng không thấy nói nhiều về ông Thiệu nên hơi lạc lõng... Ông Thiệu CÓ TỘI KHÔNG ? Ông không có tội, và TỰ BIẾT mình không có tội. Vì sao ? vì: "Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu,// Gặp thời thế,// Thế thời phải thế...// Tiền trong ngân khố không đủ để trả lương lính, đạn dược chỉ còn đủ cho vài tháng, ĐÁNH ĐẤM LÀM SAO ĐÂY ? Chuyện Việt Nam Cộng Hòa SỤP ĐỔ là chuyện HIỂN NHIÊN. "Thương biết mấy, Tổ quốc ta ơi,// Nước mắt ta rơi trên sóng biển,// Bỏ nước ra đi,// Lòng bao đau xót.// Đến giờ này,// Nước mắt vẫn rơi rơi....//
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang