Saturday, 09/05/2020 - 12:39:31
Font-Size:

Huấn luyện tại trường Sĩ Quan Lục Quân Hoa Kỳ, OCS Fort Benning (3)

Advertising

(bài 3 và hết)

Bài CHU TẤT TIẾN


Tranh Chu Tất Tiến vẽ trên tường, ngay trước cửa phòng SVSQ. 

5. Học tập

 

Trường O.C.S là quân trường lớn thứ hai trên toàn nước Mỹ, sau West Point nhưng lại là quân trường đổ mồ hôi nhiều hơn West Point. So sánh một cách đơn giản, West Point là trường dành cho giai cấp quý phái, còn O.C.S Fort Benning là trường dành cho giới bình dân, nông dân. Tuy SVSQ tại 2 quân trường đều tốt nghiệp Thiếu Úy, nhưng tại West Point, SVSQ được học những môn sang trọng, xã giao cao cấp, lãnh đạo chỉ huy và các chuyên viên trong mọi ngành quân sự của Mỹ trong 4 năm, trong khi O.C.S chỉ học gấp rút trong 6 tháng để rồi quăng vào Việt Nam, đánh nhau chết bỏ.

Điều khác nhau nữa là trường West Point là trường gồm các thanh niên tình nguyện, trong khi O.C.S. gồm các thanh niên bị gọi động viên và một số tình nguyện, vì thế mà trình độ học lực của các SVSQ O.C.S khác nhau xa, có thể chưa qua Trung Học, và cũng có thể là Cử Nhân, Kỹ Sư, Giáo Sư.

Tại Fort Benning, SVSQ được học đủ thứ vũ khí, trang cụ hạng nặng nhưng học gấp rút. Tôi được học lái xe tăng, lái xe lội nước, tập đeo ba lô súng đạn rồi nhẩy không dù từ trực thăng xuống đất, học bắn đủ loại đại bác, từ 105 ly đến 155 ly, được xem biểu diễn bắn 175 ly mà một viên đạn cần đến 6 người khiêng, cùng các loại vũ khí tối tân.

Chúng tôi bắn đại liên M.60 như cao bồi, nghĩa là đứng thẳng, tỳ báng súng trên đùi, rồi bóp cò. Sức giật của đại liên làm mấy thằng nhỏ con Việt Nam té bật ngửa, đạn bay lên trời.. Với súng đại liên 50 thì phải đứng dưới hố mới bắn được, vì sức giật của nó làm cho người khỏe đến đâu cũng té ngửa.

Sau này, khi cuộc chiến Việt Nam tàn, suy nghĩ lại về vũ khí và cách huấn luyện, tôi mới thấy rằng NGƯỜI MỸ KHÔNG BAO GIỜ MUỐN THẮNG TẠI VIẾT NAM, mặc dù bề ngoài thì muốn thắng ở Việt Nam, vì trên bức tường nào cũng có hàng chữ khổng lồ “WIN IN VIETNAM”, và trên cặp sách đi học cũng có hàng chữ ấy. Trên đường chạy đến lớp học, chúng tôi hát những bài quân hành đều nói về chiến tranh Việt Nam, “Vietnam á a à a. Vietnam á a à à. Anh đi đâu thế? Tôi đến Việt Nam! Đến Việt Nam hả! coi chừng du kích. Khi anh ngủ, chúng nó bò vào, cắt cái đầu anh!” (Where are you going? I come to Vietnam. Be careful, when you sleep, VC come and chop your head… á a à a…)

Các bài khác nói về muỗi, mòng và cạm bẫy của du kích. Những bài hát ấy làm cho SVSQ Mỹ ớn lạnh. Bên cạnh đó, có những bài học về Du Kích Chiến (Guerilla Warfare) được giảng rất cẩn thận. Về thực tập, Quân trường đã làm sẵn những làng y hệt ở Việt Nam, cũng mái tranh, cũng tre vây quanh, cho Mỹ đóng giả du kích mặc áo nâu, đội nón lá. SVSQ Mỹ phải hành quân y như thật, kẻo bị VC (giả) bắt được thì nhừ đòn. Một anh bị VC bắt, bị đè xuống đất, tay chân bị cột vào cọc, mấy thằng VC tiểu vào mồm! Một anh bị trói úp vào cây, cho kiến cắn. Anh bạn Việt Nam của tôi, ngủ gật khi đang gác, bị chúng lôi đi xa, rồi cột hai tay vào thành trên của xe cam nhông, phóng đi trong rừng, tung lên tung xuống, người rã ra.

Sau đó, chúng thả anh về, nhưng lấy mất giây giầy, và nước uống, buộc anh phải lê lết trong rừng gai cả nửa ngày mới về. Còn tôi, một lần nhận nhiệm vụ làm liên lạc viên, theo địa bàn, đi xuyên rừng tre chằng chịt, mới đầu thì còn thưa, càng về sau càng kẹt, vì tre dầy đến nỗi tôi bị kẹp cứng giữa ba, bốn thân tre, không xoay sở được, hết hồn hết vía! Phen này chết đói, chết lạnh và chết vì kiến càng cắn! Kiến ở đây khổng lồ, chích một phát là nhẩy dựng lên, la trời. Đứng một lúc lâu cho hết sợ, rồi mới từ từ rút cây mã tấu đeo bên hông ra, cưa chầm chậm cả tiếng đồng hồ cho một thân tre gẫy xuống rồi mới cử động được cánh tay, rồi vung mã tấu chặt bừa, kiếm được lối mòn ra đường cái.

Trở lại về vấn đề vũ khí chứng tỏ là người Mỹ không muốn thắng ở Việt Nam mà chỉ muốn xài lính Cộng Hòa như những vật thí nghiệm. Năm 1968, chúng tôi đã bắn M.16 muốn gẫy cả tay. Một ngày tập trận phải mang theo trong ba lô 600 viên đạn mã tử, và phải bắn cho hết. Vì ba lô chứa rất nhiều thứ, nặng hơn 20 ký lô, nên tôi chỉ bắn một phần còn lại thì lén đào lỗ, chôn bớt! Vậy mà ở trận Mậu Thân, lính Việt Nam vẫn phải bắn Garant M.1, bắn phát một, đến sau khi nhiều thành phố bị Việt Cộng chiếm bằng AK 47, liên thanh của Nga, có khả năng bắn vài chục viên một phút, Mỹ mới chở sang M.16 mà chỉ cho các đơn vị trừ bị như Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến thôi. Mãi sau mới hoàn toàn trang bị cho miền Nam súng M.16. Phải chi những năm 1960-1965, Việt Nam được trang bị súng trường M.14 như SVSQ Mỹ thì cuộc diện cũng có thể thay đổi. Hồi đó, vũ khí cá nhân mà tôi mang theo suốt thời gian quân trường là súng trường M.14, lúc súng không đạn thì nặng 4.1 ký lô, có lắp đạn là 10 kí lô, bắn liên thanh 20 viên, khi đặt xuống đất, kéo càng ra, là thành trung liên, lợi hại hơn AK 47 vì tầm sát hại mạnh hơn, bắn xa hơn, và chính xác hơn. M.14 cũng có thể dùng làm súng bắn xẻ vì tầm bắn xa trên 800 mét, tối đa là 1,200 mét.

Về súng cối, mỗi ngày một anh SVSQ Mỹ phải bắn 6 quả 4.2 inch khổng lồ. Loại súng cối này có thể bắn qua nóc nhà, rừng cây qua bên kia rất chính xác, và có thể để trên xe M.113 di chuyển, nhưng ở quê nhà, vẫn chỉ có súng cối 81, nhiều đơn vị vẫn phải dùng súng 60 ly là loại súng mà chúng tôi bắn chơi như cao bồi, tỳ đế lên đùi, một tay cầm nòng súng, một tay thả quả đạn vào và bóp cò.

Khi Việt Cộng tấn công các đồn bót miền Nam bằng B.40 hoặc B.41, thì đa số các đơn vị miền Nam vẫn còn dùng Bazoka, các SVSQ Thủ Đức vẫn học cách bắn Bazoka từ thế chiến thứ nhất! Sau này, Quân Đội Cộng Hòa mới có M.72 để chống lại B40, B 41. Riêng M.72 cũng có tác dụng bắn hạ các xe tăng loại nhẹ của Liên Xô, nhưng đến khi miền Bắc được tăng cường T-54 thì miền Nam khựng lại vì M.72 không xuyên thủng được lớp thép dầy của T-54, 80 mm hai bên thành xe, 30 mm trên nóc và 20 mm ở đáy.

Do đó trong các trận chiến sau này, đặc biệt là ở An Lộc, khi T-54 lùi lũi tiến vào thì các chiến sĩ miền Nam phải thay đổi cách đánh, bắn đứt xích T-54 bằng M-72 rồi xông ra, cận chiến. Các chiến sĩ anh hùng miền Nam đã phải dùng chính thân mình làm vũ khí để chống lại xe tăng hạng nặng của phe Cộng Sản quốc tế. Trong khi đó, cùng năm 1968, tôi đã được bắn hỏa tiễn XM-202 là khắc tinh của T-54! Loại hỏa tiễn để trên vai này, có 4 nòng, mỗi quả đạn 66mm, có thể xuyên thủng lớp thép 80 mm của Nga, rồi phóng thêm một quả đạn lửa vào bên trong. XM-202 cũng có thể bắn đạn chống biển người, cả hàng ngàn mũi tên thép bay ra một loạt thì một đại đội địch chỉ phút chốc là biến mất.

Nếu XM-202 mà được sử dụng ở An Lộc, Bình Long, thì không có những trân Xuân Lộc sau này. Đau lòng thay là mãi đến năm 1973, sau khi Việt Cộng đã lấn đất, giành dân nhiều nơi rồi, các SVSQ Thủ Đức mới được học loại hỏa tiễn này, và cũng không biết có bao nhiêu đơn vị miền Nam nhìn thấy loại vũ khí này trước khi thất trận!

Nhiều thứ vũ khí lợi hại vô cùng, cũng có thể dẹp tan các đợt tổng tiến công cấp Sư đoàn của Việt cộng trong vài phút, nhưng không hề được trang bị cho quân miền Nam. Trong một lần biểu diễn hỏa lực cho SVSQ coi, có nhiều loại xe tăng lạ lùng, khủng khiếp như xe tăng phun lửa, xe tăng có 4 nòng đại bác, xe tăng có 1 nòng cụt ngủn, nhưng chạy nhanh như xe hơi, xe tăng lội nước, và xe tăng bắn lựu đạn! Trong các loại xe tăng này, xe tăng bắn lựu đạn là khắc tinh kinh hoàng nhất cho các cuộc phục kích của Việt Cộng núp trong rừng cao su vì có thể phun ra 400 quả lựu đạn M.79 trong một phút như “bò đái”!

Nếu bắn đại bác, thì đạn có thể vướng cây to và nổ trên cao, không tác hại bao nhiêu, trong khi đó, chỉ cần một chiếc xe tăng này, phóng 400 quả M.79 từ trái sang phải là cả tiểu đoàn địch tiêu vong, vì lựu đạn nhỏ có thể xuyên qua rừng cây, mà tầm sát thương của một quả lựu đạn là 10 mét đường kính, thì cho dù núp dưới hố cũng bị banh xác. Vì Mỹ không muốn miền Nam thắng trận, nên không viện trợ cho loại xe tăng này.

Về đại bác, Quân Miền Nam được trang bị đại bác bắn đạn 105 ly đên155 ly là những loại đại bác hạng nặng và có tầm bắn tối đa là 14 cây số, trong khi đó, Việt cộng có những loại súng nặng bắn xa tới 22 cây số! Không cần nói đến khả năng sát thương, mà chỉ nói đến tầm bắn xa hay gần, đã thấy quân đội Cộng Hòa thua từ đầu, 8 cây số chênh lệch! Việt Cộng có thể đứng xa hơn mà nã trúng đồn của mình, trong khi mình chịu trận vì bắn không tới địch!

Sau này, để yểm trợ chiến thuật, Mỹ đã tăng cường cho vài cây đại bác khổng lồ 174 ly, bắn xa 40 cây số, nhưng điều kiện di chuyển thì không dễ vì sức nặng của chiếc xe tăng khổng lồ này sẽ làm sập tất cả các cây cầu ở các tỉnh nhỏ, cầy nát mặt đường đi chuyển của quân ta, do đó, chàng khổng lồ này chỉ đứng tại chỗ, ngó quanh mà thôi. Năm 1968, tại quân trường Mỹ có biểu diễn những chiếc xe díp chở đại bác 105 ly không giật, tuy tầm bắn ngắn, nhưng lại chạy vèo vèo trong rừng. Loại này nếu mà được cung cấp cho Việt Nam thì cả sư đoàn xe tăng Cộng Sản phải tan xác.

Đó là nói sơ về vũ khí, còn về chiến thuật cũng là một điểm báo trước ngày tử nạn của Việt Nam Cộng Hòa. Các Sĩ Quan Mỹ không được học về tình hình xã hội, lịch sử, văn hóa và dân tộc Việt Nam, nhất định sẽ gây ra những va chạm bất lợi cho người Mỹ cũng như Việt Nam. Thực tế đã xẩy ra như vậy. Khi nổ ra vụ Mỹ Lai, tôi đọc báo Times và thấy hình ảnh đàn bà, con trẻ nằm la liệt chồng chất lên nhau, hình ảnh những người lính Mỹ thản nhiên quăng mẹt lửa lên mái nhà, hình ảnh một đứa trẻ lúc trước còn chạy, lúc sau thì gục bên hào, tình đồng bào trong tôi làm tôi phẫn nộ, tôi ngồi khóc lặng lẽ cả buổi tối.

Để giải độc dư luận, giúp cho các SVSQ Mỹ dịu bớt căng thẳng, một buổi sinh hoạt đặc biệt được tổ chức gấp tại đại giảng đường với cả ngàn SVSQ tham dự. Khoảng 3 vị Tướng, Tá trên ngực đầy huy chương nói chuyện linh tinh, trên trời dưới đất. Nghe họ nói những diễn tiến có lợi cho viên Thiếu Úy Calley, người ra lệnh tàn sát làng Mỹ Lai, tôi nổi nóng giơ tay, xin phát biểu,

“Thưa quý ngài, tôi là SVSQ Tien xin có một câu hỏi.”

Một ông Tướng gật đầu, “Muốn hỏi gì, nói đi!”

Tôi nói, “Thưa quý Ngài, tôi có thắc mắc. Khi quý Ngài hành quân đến một khu làng mới, để tránh cho trường hợp Mỹ Lai tái diễn, các Ngài có phương pháp nào để phân biệt ai là Việt cộng, ai là dân thường không?”

Một ông Tướng trả lời, “Dễ lắm! Tôi chỉ việc kêu một người nào trong làng đó, đánh trống, và kêu gọi tất cả ra trình diện. Ai không chịu ra, người đó là VC”.

Tôi phản bác ngay, “Thưa Ngài, phương pháp này hoàn toàn bất lợi. Người già làng Việt Nam rất cổ hủ và rất tự ái, khi nghe một người lính Mỹ vào buộc ra mít tinh, thì họ nhất định không ra. Nếu Ngài ra lệnh bắt hoặc bắn mấy người không ra họp này, Ngài đã tạo cơ hội cho Việt Cộng lấy thêm lính.

Một ông Tướng thứ hai nói, “Theo tôi, thì tôi cho người đi xét thẻ căn cước. Ai không có căn cước thì là du kích.”

“Điều này càng sai hơn. Tại các làng xã xa thành phố, nhiều người không thích làm căn cước, hoặc lẩm cẩm cất đâu đó rồi quên, hoặc đánh mất mà không chịu đi khai. Trong khi bọn VC lại có thể đút lót để mua một căn cước giả rất dễ dàng.”

Một vị khác góp ý, “Ta có thể mua chuộc, gạ gẫm, hứa cho tiền thưởng một người nào đó để họ chỉ cho những kẻ nằm vùng?”

Tôi càng phản đối mạnh hơn, “Việc này càng nguy hiểm, vì kẻ bị mua chuộc có thể có tư thù cá nhân với ai đó, mà tố cáo bậy, thì chết người vô tội. Ngoài ra, cũng ít có kẻ dám làm vậy, vì nếu tố cáo VC ban ngày, là ban đêm sẽ bị VC vào cắt cổ cắm vào cọc đầu làng. Như vậy, thưa quý Ngài, việc thảm sát Mỹ Lai xẩy ra là vì quý Ngài không ai biết phong tục, văn hóa của người Việt.”

Nói xong, tôi ngồi xuống, người toát mồ hôi vì giận Mỹ mà thương người Việt mà không ngờ tôi bị ghi sổ đen. Cùng với các hành động chống đối khi trước của tôi, ông Thiếu Úy Cán bộ Trung đội Trưởng, gốc Ý, gọi tôi lên văn phòng và cho tôi biết là hồ sơ tôi đã bị ghi là “chống Mỹ” (Anti-American), nhưng ông chỉ nói cho tôi biết vậy thôi, và khuyên tôi nên cẩn thận, kẻo bị bắt hay bị tống về nước với cái lon Trung Sỹ. Ông nói nhỏ nhẹ vì ông đã mắc nợ tôi.

Trong lần Party lên huynh trưởng, tôi có chụp hình ông đứng với vợ, tấm hình nhỏ xíu thôi, và khuôn mặt của bà trong tấm hình chỉ chừng đầu ngón tay trỏ, nhưng tôi ngẫu hứng vẽ phóng ra, bằng Arcrylic, thành môt bức tranh khổ 15 x 30”, rồi lẳng lặng đem treo vào phòng làm việc của ông, một buổi tối. Sáng hôm sau, ông vào phòng làm việc, thấy bức tranh vợ, ngạc nhiên quá, đi hỏi mãi, biết tôi là tác giả, ông mời lên, cám ơn tôi rối rít.

Thật ra, tôi phát triển nghề vẽ của tôi trong khi học là vì.. tôi mệt quá với các công việc tạp dịch, lau cầu tiêu, chùi hành lang, lau phòng Cán bộ, làm vệ sinh chung quanh trại…nên nghĩ ra cách trao đổi công tác. Một hôm, tôi lên trình bầy với ông Đại Úy Đại Đội Trưởng là tôi muốn trang trí các bức tường trong Câu Lạc bộ SVSQ còn trống trải quá. Ông kia khoái quá, rút ngay tiền ra đưa cho tôi để mua đồ, nhưng tôi từ chối, vì .. sợ ! Sợ làm ông tốn kém mà vẽ không được thì bị đì chết tươi. Tôi bỏ tiền túi ra đi mua sơn dầu, Arcrylic, cọ vẽ.. rồi cứ ăn cơm chiều xong, là vác cái thang ra, gác vào bức tường ngay cửa ra vào và phác thảo môt bức tranh anh hùng David Crocket của Mỹ, anh chàng đứng tì tay lên mũi súng để dựng ngang chân, trông bất cần đời.

Mấy ngày đầu, tôi lo lắng vô cùng, vì đó là lần đầu tôi vẽ bằng cọ sơn! Tôi từng học vẽ nhiều năm khi còn trẻ, nhưng toàn là bằng Phấn Pastel, chưa bao giờ học pha mầu sơn, hay vẽ bằng cọ và lại vẽ thẳng trên tường! Liều mạng vẽ mấy ngày, chỉ một cái đầu thôi, mà không ra con giáp nào, mầu nọ chửi cha mầu kia, bị chúng chê bai, chửi quá chừng! Tôi sợ quá, nên đành bỏ ngủ, thức cả đêm để vẽ, mắt nhòe ra, nhìn cái gì cũng thấy mờ mờ nhân ảnh.

Nhưng Trời thương, chỉ 5 đêm sau, là tôi biết cách pha mầu và cứ thế là phóng tay vẽ như điên. Bức tranh cao 3 thước, rộng 1 thước trấn ngay cửa ra vào, được hoan hô nhiệt liệt. Tới luôn đi, bác tài! Tôi cao hứng vẽ thêm môt bức tranh nữa trên bức tường đối diện, cũng ở trên cao, cách mặt đất 3 mét, một bức tranh đám cưới cổ Việt Nam, ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau. Lính khiêng heo, lính khiêng trầu, cau, lính che lọng, bề ngang 3 mét, bề cao 1 mét rưỡi (1). Ông Đại Đội Trưởng khoái quá, miễn tạp dịch cho tôi đến hết khóa.

Chưa hết, tôi đề nghị với ổng là tôi sẽ vẽ hình đầu cọp, báo, sư tử trên gỗ và cho treo trên khắp các tầng lầu, thể hiện tinh thần của từng trung đội, Trung đội 1 là đầu cọp, trung đội 2 mang đầu báo, trung đội 3 là đầu gấu, 4,5,6… mỗi trung đội một hình tượng. Ổng Ok liền và ra lệnh cho bên hành chánh đi ra phố, tìm tiệm gỗ, cưa gỗ theo đúng hình vẽ của tôi, rồi về cho tôi vẽ và treo lên trước cửa từng trung đội. Riêng trước cửa phòng tôi, tôi vẽ một con cọp khổng lồ đang đi xuống thang gác (2, hình đính kèm).

Rồi cũng ổng, năn nỉ tôi vẽ một bức tranh cho buổi Party khác, tôi vẽ một bức tranh cao hơn 3 mét, hình một chàng Cao bồi đang cưỡi trên một con ngựa đứng 2 chân, nhe răng. Tiếng đồn lên tới Tiểu Đoàn. Ông Tiểu đoàn Trưởng mời tôi lên, nhờ thảo cho một bức tượng người lính bộ binh để dựng trước văn phòng Tiểu đoàn.

Thế là tôi được nghỉ học, ung dung cầm bản vẽ, bút chì đi ngắm nghía và vẽ luôn một tượng đài vuông vức, trên là một anh lính đang giơ tay phải lên, xung phong. Chưa hết, trước ngày lễ mãn khóa, tôi vẽ một bức tranh Chùa Một Cột đem tặng cho Chỉ Huy Trưởng Trường, để kỷ niệm một anh SVSQ Việt Nam được thụ huấn ở đây… Thật là liều mạng vì như đã nói ở trên, tôi chưa từng học vẽ sơn dầu, chưa từng học kiến trúc, mà dám chơi luôn một cái tượng đài! Bức tượng này được hoàn thành gấp rút, chỉ trong vòng 2 tháng là đã đúc xong. Ngày mãn khóa, tôi đi qua, ngắm nghĩa và hãnh diện một mình. Dân Việt Nam chơi liều không thua ai.

Nhiều chục năm trôi qua, nhìn kỹ lại từng vấn đề liên quan đến chiến tranh Việt Nam, tôi nghĩ rằng, người Mỹ, nói chung, là một dân tộc trọng tinh thần Dân Chủ, Pháp Luật, và Quyền Tự Do cá nhân tối đa,. Nguòi Mỹ, trên phương diện hình thức, tôn kính Chúa Trời, cho nên trên đồng tiền cũng có Chúa, các lời thề nhậm chức hay ra trước pháp luật, đều có Chúa chứng giám. Do đó, họ có nhiều đức tính tốt vượt bực, có sự quan tâm đối với các dân tộc nhược tiểu, nhưng ngược lại, các chính phủ Mỹ, dù Cộng Hòa hay Dân Chủ, lại là một tập thể chính trị biệt lập. Chính phủ Mỹ, dù ngành nào, Tư Pháp, Lập Pháp, hay Hành Pháp, luôn dành hết khả năng của mình vì quyền lợi của nước Mỹ, làm cho nước Mỹ mỗi ngày mỗi lớn mạnh hơn.

Do đó, nếu có sự gì cản trở bước tiến của nước Mỹ, hoặc không làm cho nước Mỹ vĩ đại hơn, thì các chính trị gia lãnh đạo sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, có thể bất chấp đạo đức, dẹp bỏ mọi lời hứa với đồng minh, và tỉnh bơ trước mọi lời phê bình, chê trách. Như việc giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, hứa yểm trợ đồng minh rồi lại bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Trung Cộng và khối cộng sản, cho biệt kích sang Panama, tóm cổ Tổng Thống nước này đem về Mỹ, giam tù…

Hiện tại, lúc thì bắt tay khen ngợi Trung Cộng, lúc lại hăm dọa chiến tranh. Với Bắc Hàn cũng thế, hân hoan chào đón hay chuẩn bị phóng hỏa tiễn cũng là tùy theo tình hình và lời khuyên của các “Think Tank” đặc biệt (Không phải nhóm cố vấn trong Bạch Cung). Vì thế, mới có câu, “Làm kẻ thù của nước Mỹ thì tốt hơn là làm bạn với Mỹ” và “Với nước Mỹ, không có kẻ thù vĩnh viễn cũng như không có bạn thân mãi mãi.”

Trên hết, Cám Ơn Nước Mỹ đã cho chúng tôi được Tự Do.

(Mùa Covid 2020)

Advertising
Advertising
Bình luận
Ngô Dủng đã nói: Hay và thực tế, vì tôi có 1 trung úy huấn luyện viên tại trường hạ sỉ quan Đồng Đế tốt nghiệp trường Fort Benning này, tôi là SVSQ khóa 3/72, tiểu đoàn 1 SVSQ quân trường Đồng Đế nha trang.
Bui Khanh đã nói: Đọc xong 3 bài này của bác, tôi chỉ xin nhận xét 3 câu: - trí nhớ của bác còn tốt quá (chuyện 50 năm, mà bác còn nhớ được cả tên) - bác lì quá (chuyện đánh nhau trong khóa học) - bác liều quá (chuyện vẽ vời, đúc tượng)
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang