Monday, 28/10/2019 - 11:06:51
Font-Size:

Những nghệ nhân tuồng cuối cùng

Advertising
Nghĩ cũng buồn, không phải buồn vì mình không có đất dụng võ mà buồn vì thế giới chung quanh mình ngày trở nên hời hợt, con người tàn nhẫn hơn nên ít quan tâm đến những vở bi, hài của tuồng hay kịch, con người ngày càng lạnh lùng hơn nên chán những chỗ mang triết lý nhân sinh, chân, thiện mỹ…

Bài NGUYÊN QUANG

Nghệ thuật tuồng, có nơi còn gọi là hát bội, hát bộ vốn dĩ xuất phát từ kinh đô Huế nhưng lại phát tiết ở Bình Định và cách tân, chuyển theo dòng hiện đại ở Quảng Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể thời cuộc, có lúc nghệ thuật tuồng được cải biên thành hát chèo ở miền Bắc nhằm phục vụ dân vận để tấn công miền Nam, và có lẽ, cũng từ đó, nghệ thuật tuồng trở nên xa lạ với khán giả, theo thời gian, dường như nghệ thuật tuồng đã chết lâm sàn. Hiện tại, chỉ còn đúng năm đoàn tuồng tại Quảng Nam và Bình Định nhưng trong đó có hai đoàn còn hoạt động, là Đào Tấn ở Bình Định và chính xác hơn là còn đúng đoàn tuồng Sông Thu ở Duy Xuyên, Quảng Nam, riêng đoàn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Đà Nẵng dường như tồn tại cho vui, không có hoạt động nào từ nhiều năm nay.
 

Trải qua nhiều bể dâu thăng trầm, nghệ sĩ tuồng nhiều khi tìm sân khấu chỉ để hát cho đỡ nhớ nghề, để giữ lửa nghề. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Những đêm hát hiếm hoi

Nhớ hồi nhỏ, tôi coi một vở tuồng có nhân vật Trần Quốc Tuấn, ông có bộ râu dài, khi ra trận thì vuốt râu, vịn chuôi kiếm. Đến màn Trần Quốc Tuấn xuất hiện, ông ta đưa tay vuốt râu, cái cằm trống trơn vì quên gắn râu. Vậy là khán giả cười rần lên. Ông cũng mắc cười, quay mặt vào màn cố nín cười và xưng với giặc “Như ta đây là Trần Quốc Tân, em ruột của tướng Trần Quốc Tuấn, các ngươi đừng thấy ta trẻ, không có râu mà cười nhạo, hãy đợi đấy, ta sẽ về gọi anh ta lên nói chuyện với chúng bay!”

Nói xong, Trần Quốc Tân lui vào sau màn, gắn râu vào và bước ra xưng “Như ta đây là Trần Quốc Tuấn, có đứa nào mới hỗn láo với hiền đệ Trần Quốc Tân của ta?! Hỡi lũ giặc Mông Nguyên kia chớ tưởng bở, các ngươi sẽ phải hối hận vì ngu si mang dã tâm xâm lược nước Nam anh hùng…”
Vậy là khán giả vỗ tay rầm rầm, cười một trận sảng khoái.
 

Khán giả tuồng đa số là người lớn tuổi, và có lẽ người đi càng đêm càng thưa dần không thoát khỏi. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Không khí tuồng, sân khấu văn nghệ những năm 1980 đầy hồ hỡi và có vẻ như ít bị kiểm duyệt như hiện tại mặc dù thời đó ngăn sông cấm chợ. Có lẽ thời đó, sự sợ hãi về tính ổn định của chế độ không đến nỗi ngặt nghèo như bây giờ, và người ta cũng hành xử có văn hóa hơn chăng?! Hay do lúc đó chưa biết gì? Cũng khó nói. Nhưng rõ ràng, hát tuồng thời đó còn rất vàng son so với sau này.

Hiện tại, các đoàn tuồng hoạt động trong dịp Tết, lễ… không có nghệ nhân, nghệ sĩ nào sống được nhờ tuồng mà việc đi hát tuồng chỉ là giữ lửa, cho nguôi nhớ nghề. Riêng đoàn tuồng Sông Thu hoàn toàn độc lập với ngân sách nhà nước, nghĩa là các nghệ sĩ, nghệ nhân tự tìm khoản ngân sách riêng để thuê sân khấu, hợp đồng với các địa phương mà duy trì hoạt động biểu diễn.

Khác với các đoàn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Đà Nẵng và Đào Tấn, Bình Định thuộc biên chế nhà nước. Nhưng, nhờ hoạt động tự do nên đoàn tuồng Sông Thu, Quảng Nam không phụ thuộc vào bất kì khoản ngân sách nào, họ tự do lên chương trình và duy trì hoạt động tương đối tốt, chủ yếu là đi hát chúc xuân, hát cúng đình, cúng làng, cúng đầu năm, cuối năm.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Thị Trang, Trưởng đoàn Sông Thu, chia sẻ, “Mình đi hát chủ yếu là nuôi lửa, giữ nghề của cha ông, tụi chị mỗi người mỗi việc, có người đi uốn tóc, hớt tóc nghệ thuật, có người đi ở đợ, rửa chén bát thuê, có người chạy xe ôm, phụ hồ, có người cày ruộng, cũng có người đi làm bác sĩ. Đến Tết thì rủ nhau chung tiền thuê đạo cụ, sân khấu, sửa soạn trang phục để mà đi hát. Công tâm mà nói thì hát tuồng vẫn có dư chứ không lỗ, nhưng chỉ mấy ngày Tết thôi, ngày thường thì không ai quan tâm tới tuồng đâu em!”
“Ngoài dịp Tết, lễ ra thì mình có hay tổ chức những đêm hát thường niên không chị?”
“Ồ, không có đâu, vì nghệ thuật tuồng bây giờ trở thành đồ cổ, ít ai xem lắm, chỉ có những khán giả nặng lòng với tuồng mới đi xem thôi. Mà các vở diễn của mình cũng hơi cũ, chỉ diễn lại các vở của thời xưa, mình không có nhà soạn giả, không có đạo diễn nên khó mà dàn dựng được vở mới, đâm ra khó mà trụ nổi. Chủ yếu vẫn là giữ lửa với nghề thôi. Có một số người chuyển sang đi hát ông Công cho đám tang, nghề này có vẻ có thu nhập hơn…”
 

Đôi lúc, tuồng như để quên đi thân phận đời thường của người nghệ sĩ. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Hát ông Công có liên quan gì đến tuồng không chị?”
“Ồ, tất cả những động tác, cách ngắt hơi và kịch bản của ông Công đều là từ hát tuồng mà có. Từ làn điệu cho đến lời hát và điệu bộ đều dựa trên nền tuồng. Không biết nghề hát ông Công còn kéo dài được bao lâu nữa bởi vì đám tang ngày càng hiện đại, người ta thay vì hát ai điếu, giữ trang nghiêm thì chuyển sang hát nhạc hiện đại và nhiều gia đình tổ chức đêm nhạc ngay trong đám tang và khi đưa người đã khuất ra đồng thì người ta mời các đội mai táng kèn tây, các đội này của nhà nước hoặc các thầy chùa đến làm lễ, thành thử vai trò của ông Công trong đám tang cũng ngày càng phai nhạt.”
 

Khi đã lên sân khấu, những nghệ nhân tuồng luôn sống hết mình với vai diễn. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Thường thì một cái Tết mình hát được mấy đêm vậy chị?”
“Càng về sau càng thưa dần, mượn câu của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng vậy người đi càng đêm càng thưa dần, dường như sau mỗi năm, thế hệ đi trước già đi hoặc qua đời, người nghệ sĩ tuồng lại mất đi vài khán giả, và cũng có lẽ là chỉ có người già và trẻ con rất ưa tuồng, tuổi thanh niên hiếm hoi đi coi tuồng lắm, nếu có họ cũng dẫn nhau đi hẹn hò, thậm chí có nhiều bạn trẻ nói cười, chọc ghẹo, gây ồn làm cho khán giả khác khó chịu.


Bộ dụng cụ hóa trang tự sắm, đơn giản của những nghệ nhân tuồng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Tuồng ngó vậy chứ kén khán giả lắm, bởi vì đây là một loại hình nghệ thuật hàn lâm, trong từng động tác, từng biểu cảm, từng nét vẽ… Nghệ thuật tuồng đòi hỏi phải có không gian riêng, người cảm nhận phải sâu… Nên đâm ra khó.

“Thời đại bây giờ, người ta thích những cái gì dùng liền, ăn liền, không cần suy nghĩ gì nhiều. Chính vì mọi thứ đều phớt bên ngoài nên độ sâu của mọi thứ trở nên thiếu vắng. Nghĩ cũng buồn, không phải buồn vì mình không có đất dụng võ mà buồn vì thế giới chung quanh mình ngày trở nên hời hợt, con người tàn nhẫn hơn nên ít quan tâm đến những vở bi, hài của tuồng hay kịch, con người ngày càng lạnh lùng hơn nên chán những chỗ mang triết lý nhân sinh, chân, thiện mỹ… Con người ngày càng nói dối nhiều hơn nên tránh xem những vở tuồng có luật nhân quả, ca ngợi cái đẹp của tình người và sự cao cả…”.
“Ngoài những yếu tố chị vừa nói, còn một yếu tố nữa giết chết nghệ thuật tuồng, đó là theo thống kê của các nhà nghiên cứu, kể từ khi tuồng biến thể và kết hợp với chèo đã làm cho tuồng bị biến dạng và mất khán giả, chị thấy sao?”

“Cái này cũng là một phần, hầu hết các môn tuồng, cải lương khi các đoàn phía Bắc dàn dựng và hát với giọng Bắc, phát trên các chương trình tivi toàn quốc thì xem như bộ môn nghệ thuật này đi tong, mất hết khán giả. Nhưng chị không dám khẳng định đâu! Vì mình là một người nghệ sĩ, mình không thể đổ thừa cho bất kì ai ngoài bản thân mình.”

Tuồng đời ghê gớm hơn tuồng sân khấu

Một nghệ sĩ, một nhà soạn tuồng trẻ có nhiều tác phẩm nhưng không bao giờ được phép trình diễn vì nó “nhạy cảm,” ông cũng là trưởng một đoàn tuồng, không muốn nêu tên, chia sẻ một sự thật mà theo ông, đây mới là nguyên nhân dẫn đến sự chết đi của tuồng và cải lương, đó là “Tuồng đời ghê gớm hơn tuồng sân khấu.”


Thỉnh thoảng, người cầm chầu tung thẻ trịch để thưởng những đoạn diễn xuất thần của nghệ sĩ. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Anh có thể nói rõ hơn ý này một chút không?”
“Bất kì một bộ môn nghệ thuật nào cũng phải phản ánh được hơi thở thời đại của nó, rất tiếc, tuồng và cải lương, thậm chí kịch nói bây giờ có vẻ như không đi kịp thời đại. Không phải là soạn giả không soạn được các vở diễn mới mang hơi thở thời đại mà là do cơ chế kiểm duyệt. Cho đến bây giờ, có thể nói rằng ngoài các nhà tuyên truyền, các nghệ sĩ văn công nhà nước, các nhà dân vận được lăng xê hết cỡ bằng loại hình na ná nghệ thuật kiểu như nhạc trẻ, nhạc mì ăn liền, nhạc như nói chuyện kiểu không còn yêu thì em cứ đi, trên đường đi nói câu biệt ly yeah! hoặc nếu đã thấy không còn cảm giác thì thôi hãy chia tay đừng yêu nữa… Điều này tạo ra làn sóng tuổi trẻ không cần nghe bất kì thứ gì có chiều sâu mà chỉ cần nhảy nhót, kích động, họ sống nông cạn, hời hợt… Đây là nguyên nhân chính dẫn tới một bi kịch của cả dân tộc, dường như mọi thứ rỗng tuếch!”


Hậu trường sân khấu, nghệ nhân tuồng dù có diễn ở giữa đường, giữa xóm cũng thắp nén nhang nhớ tổ nghề. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Nhưng anh vẫn chưa nhắc tới vở tuồng lớn?”
“À, tuồng lớn nằm ở chỗ trung ương, tỉnh, các cấp chính quyền, đó là một sân khấu chính trị đầy kịch tính và li kì hơn cả tuồng sân khấu và tuồng sân khấu muốn chuyển tải cũng không dám làm. Làm là chết ngay! Làm sao có thể viết được, lột tả được cái sân khấu Việt Nam khi mà đủ các kịch bản từ nhảy lầu cho đến tai nạn xe, bị bắt vì cái bao cao su qua sử dụng và còn rất nhiều chi tiết khiến cho anh em ruột thịt trong nhà vác dao giết nhau.

“Vở tuồng này quá khủng khiếp, các nghệ sĩ này sắm vai độc đáo gấp triệu lần tuồng sân khấu nên tuồng sân khấu trở nên lạc hậu trước tuồng đời. Rất khó để đuổi kịp. Văn chương thì bạn có thể viết ra và xuất bản ở nước ngoài hay giấu vài thế kỉ hoặc vài chục năm gì đó. Chứ kịch bản tuồng, bạn giấu cho đỡ buồn thôi chứ tới vài chục năm nữa, chắc gì còn nghệ sĩ để hát, mà vài chục năm nữa thì nó cũ rồi. Còn xuất bản ở nước ngoài thì mình sống chắc gì yên, hơn nữa ở bên ngoài có đoàn nào để dàn dựng vở cho mình… Nhìn đâu cũng thấy bế tắc bạn à!”

“Anh thấy đời sống của nghệ sĩ tuồng nói riêng và bộ môn tuồng bây giờ ra sao?”.
“Đời sống à, không có gì để nói đâu, vì làm gì có đời sống cho nghệ sĩ tuồng! Hầu hết họ làm nghề khác, đến Tết thì nhớ nghề, mượn cái sân bóng hay sân nhà văn hóa thôn để hát, để cúng tổ nghề. Một đêm hát như vậy, may lắm thì mỗi người kiếm được 500 ngàn đồng (tương đương $22 USD, mà phải chuẩn bị cả buổi chiều, tới khuya mới xong. Nói về thu nhập thì thua một người đi bán bong bóng hoặc bán vé số ngày Tết. Ngày Tết bán thứ gì cũng có thu nhập khá hơn ngày thường, nhờ vậy mà một người bán vé số thu nhập sẽ cao hơn một nghệ sĩ tuồng. Và tuồng có đạo nghề, nghĩa là phải nói lên được những ưu tư xã hội. Giờ bị cấm nói thì đương nhiên tuồng phải tử vì đạo thôi!”

Vỏn vẹn mấy chữ “tử vì đạo” của nhà soạn giả tuồng trẻ, có lẽ cũng đủ để nói lên tất cả những gì mà người nghệ sĩ tuồng đang nếm trải. Họ là những người say sưa với nghề, yêu nghề như yêu người thân và họ cũng không có bất kì danh lợi nào trong hệ thống tuồng Việt Nam. Điều đó khác xa với các nghệ sĩ tuồng nhà nước được hưởng bổng lộc và họ tồn tại để chia lộc và nhận lương ổn định nhưng hiếm khi biểu diễn và hình như có biểu diễn cũng chỉ dành cho các quan xem!
 

Nghệ nhân tuồng tự vẽ mặt hoặc thi thoảng họ dùng mặt nạ nếu vì nguyên nhân nào đó không thể vẽ mặt. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Sân khấu tuồng chuẩn bị mở màn. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Nuôi lửa nghề, nữ nghệ sĩ vào vai nam vì không đủ vai. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Tuồng dường như chỉ còn trong những dịp lễ, Tết. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)
Advertising
Advertising
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang