Saturday, 27/04/2019 - 11:04:25
Font-Size:

Những buôn làng vắng bóng thần đại ngàn

Advertising



Nhà sàn cũng biến tấu với cầu thang cement thời thiếu gỗ. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Bài NGUYÊN QUANG

Với những tộc người thiểu số Tây Nguyên, đời sống, thân xác và linh hồn của mỗi người hiện hữu, tồn tại cùng với thần đại ngàn. Thần đại ngàn che chở, cưu mang, dun rủi cho các tộc người được mạnh mẽ đôi chân để lội suối, băng rừng, đôi mắt sáng như mắt hổ, mắt nai để nhìn thấu đêm đại ngàn... Thần đại ngàn có mặt mọi nơi, mọi góc khuất, từ căn bếp cho đến cây cột nhà, mái ngói và chiếc cầu thang bắc lên nhà sàn... Và một khi thần đại ngàn đi vắng, điều đó cũng có nghĩa là các tộc người đang nhìn thấy những năm tháng vong thân, vong nô của mình. Và dường như điều ấy đang hiện rõ!
 

Nhà sàn Ê Đê lợp mái tôn lẻ loi khi thiếu vắng Thần Đại Ngàn. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Rừng đi về đâu?

Nơi chúng tôi đến có tên khá thơ mộng, giống với một địa điểm ở Đà Lạt, Thung Lũng Hoa Hồng, đó cũng là một thung lũng, có trồng vài cây hồng leo và hoa tigon, quán cà phê đặt ở trung tâm thung lũng tên Hoa Hồng nên người ta gọi vậy cho nó thơ… Có lẽ! Cách cà phê thung lũng Hoa Hồng không xa là Cô Thôn, còn gọi là Akõ Dhông theo tiếng Ê Đê. Nơi đây mệnh danh là trung tâm lưu trữ nhà sàn của Tây Nguyên, hoặc gọi khác đi là bảo tàng nhà sàn. Nơi có những chiếc cầu thang gỗ, vò rượu, ché rượu và những chiếc cần rượu nguyên thủy, từ thời già làng AMa Kông còn sống và trước ông nữa.
 

Đất đai của người Ê Đê ngày càng thu hẹp. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Nói về AMa Kông, một người bạn là nhà thơ khá nổi tiếng trong giới văn nghệ phi nhà nước ở Tây Nguyên giới thiệu ngắn gọn: “Ông có nhiều vợ, sức khỏe rất tốt và có bí quyết ngâm rượu chữa bệnh, đặc biệt là bệnh yếu sinh lý ở đàn ông. Ngoài ra, ông sống tử tế, mẫu mực. Nhưng không như những gì huyền thoại thêu dệt.”
 

Nhà sàn hiếm hoi còn được cầu thang gỗ ở buôn Cô Thôn. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Huyền thoại thêu dệt như thế nào anh?”
“Thì trước đây ông cũng từng săn voi, cũng từng giúp dân làm nhiều việc, mà một già làng thì đương nhiên phải có những chức năng và trọng trách này. Đó là chuyện bình thường. Sau này du lịch phát triển, người ta bắt đầu thần thánh hóa ông để câu khách. Nào là ông có khả năng một đêm săn hai con voi hay quật ngã voi, cọp… tất cả những thứ đó vô hình trung làm xấu hình ảnh thật của AMa Kông. Nói đến ông là phải nói đến thần rừng, thần đại ngàn trong mối tương quan con người, thiên nhiên và thần linh.”
“Nghĩa là sao? Anh cói thể nói rõ hơn một chút?”

(Nguyên Quang/Viễn Đông)

“A Ma Kông là con người khá thú vị, ông yêu rừng có khi hơn cả bản thân ông, từ việc săn bắt, hái lượm ông đều có triết lý, nghĩa là đại ngàn có mười thì con người chỉ nên xin chừng một nửa của một, chừng 5% thôi là đã quá cao, đừng tham. Ví dụ săn voi hay chặt gỗ rừng, ông không bao giờ săn những con voi con hoặc voi mẹ dẫn con đi ăn. Hạ gỗ rừng thì ông tìm những cánh rừng già và chỉ hạ vài cây cần thiết để mang về làm nhà chứ không hạ hết và cũng luôn dặn dân làng phải làm giống như ông. Rất tiếc, khi ông chết đi thì không riêng gì Cô Thôn mà cộng đồng người Ê Đê bắt đầu hỏng!”
“Hỏng như thế nào vậy anh?”
 

Quầy lưu niệm nhà già làng Ama Hrin, một trong những nơi hiếm hoi còn lưu giữ được nét nhà sàn Ê Đê ở buôn Cô Thôn. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Cái cơ chế quản lý sau 1975, dồn toàn bộ đất đai lâu đời của người thiểu số vào thành đất toàn dân khiến cho họ chới với, không có lối thoát, nhiều người dân tộc không thể đi đến nương rẫy của chính họ. Cộng thêm những người cán bộ ngoài Bắc vào với tính tình hết sức giảo hoạt đã lừa bà con tộc người thiểu số đến chỗ bán đất đai với giá rẻ bèo, thậm thí không hề mua mà cho vài đồng rồi bắt họ ký giấy chuyển nhượng với lý do “nộp cho nhà nước, cán bộ nhận giùm.” Người thiểu số bị đẩy lùi vào rừng sâu. Riêng Cô Thôn còn ở ngoài được là nhờ AMa Kông, nhờ du lịch còn tận thu được ở họ. Nhưng bây giờ người thiểu số đã giảo hoạt rồi, họ phải khôn ranh để đối phó với cán bộ.”
“Anh có thể nói rõ hơn một chút được không?”
 

Đại ngàn ngày càng trơ trọi, người thiểu số chỉ có thể đi đốn gỗ thuê chứ không mong đốn gỗ làm nhà như trước kia. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Thì bị lừa mãi cũng khôn ra, phải đi lừa lại bằng cách này hay cách khác. Làm rượu AMa Kông giả để bán, tranh thủ làm lâm tặc, bắt đầu đi cò đất… Nhưng tất cả mọi sự trả thù của người thiểu số cũng chỉ yếu ớt vậy thôi chứ không tài nào thắng thế được. Và đáng sợ nhất là quá trình bê tông hóa của người thiểu số. Nghĩa là họ thấy giá gỗ cao, họ thi nhau tháo nhà gỗ để bán, đi làm lâm tặc thuê. Trước đây họ yêu rừng bao nhiêu, yêu nhà sàn gỗ bao nhiêu thì bây giờ họ phá rừng một cách tàn nhẫn và bán nhà sàn một cách vô cảm bấy nhiêu. Hậu quả của việc này là hầu hết người thiểu số lùi vào rừng sâu đều không còn gỗ để làm nhà vì nhà nước cấm khai thác. Những cánh rừng sát sườn nhà họ bị dưới xuôi lên cưa không còn một cây nhưng họ vẫn không dám hạ dù là đốn trộm. Vì đốn trộm mà làm nhà thì khác nào lạy ông tui ở bụi này. Cuối cùng, họ đốn trộm thuê cho dân Kinh, mà cụ thể là cho giới cán bộ và kiểm lâm. Đại ngàn ngày càng trở nên trơ trọi. Nhà người thiểu số thì xây tạm bợ với cement và những viên gạch vốn rất xa lạ với họ….”
 

Nhiều người thiểu số trở thành cò đất hoặc sang Lào làm thuê sau khi mảnh đất của mình đã thuộc về người Kinh. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Voi thiêng vắng bóng

Tạm biệt Cô Thôn và người bạn nhà thơ, chúng tôi theo quốc lộ 14B quay trở lại Gia Lai, đoạn giáp ranh giữa Gia Lai và Buôn Ma Thuột có một buôn nhỏ vốn nổi tiếng về săn voi. Sở dĩ chúng tôi đột ngột quay trở lại bản voi bởi vì voi là biểu kế sinh học của khu vực này. Sự thân thiện giữa voi và người thiểu số cũng như số lượng sinh trưởng của voi sẽ nói lên sức sống Tây Nguyên.

Trời bất ngờ gió tố, không có mưa giông nhưng đường vốn khô khốc, bụi bặm, thêm trận gió tố, đang tay xách nách mang ba lô, chân máy lang thang mà gặp cảnh này đúng là khó đỡ. Loay hoay chưa biết tính làm sao với mớ bụi trên người, may sao có một anh người dân tộc Hmong (có một nhóm người Hmong dạt vào Gia Lai, Tây Nguyên để lập nghiệp, có thể nói ở đây họ làm ăn khấm khá hơn ở phía Bắc, nhưng bù vào đó đời sống của họ quá khốc liệt bởi khí hậu, con người và các qui định không có lợi cho người thiểu số từ phía chính quyền địa phương).
“Đi đâu mà lang thang vậy? Gió tố như vậy coi chừng lốc là chết đó, mưa giông nữa! Lên đây tôi chở giúp cho!”

Tôi cảm ơn và ngồi lên xe, nhờ anh chở vào làng săn voi, ngồi trên xe rồi tôi mới sực nhớ là mình quá ẩu, nếu nhỡ… Nhưng chắc không sao, vì mình không hại người thì lẽ nào người hại mình. Vả lại… Tôi cũng tính nước nếu như bị bao vây thì tìm đường thoát, cho dù rất mơ hồ…!
“Làng săn voi nào hè? Sao tôi không biết.” Người đàn ông Hmong tự giới thiệu mình tên Triệu Vân Ngoạn hỏi tôi.
 

Cây điều cũng không tránh khỏi tình trạng nhiễm bệnh. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Ủa, anh ở đây bao lâu rồi?.”
“Hơn 25 năm rồi, nghe ông bà mình nói trước đây có người săn voi ở đây. Nhưng giờ làm chi còn con voi nào. Nếu cậu muốn tìm voi thì lên hồ Lak, trên đó còn ba con voi, nhưng là của ông chủ khu du lịch hồ Lak mua từ bên Lào về, chứ Việt Nam làm gì còn voi mà tìm.”

Nghe tới đây thì tôi rụng rời tay chân vì đã bắt xe đi một quãng đường gần trăm cây số, đi bộ chắc cũng gần ba cây số để vào bản, cuối cùng thì công cốc sao! Thôi thì cứ nhờ anh ta đưa tiếp tới chỗ mà “trước đây có người săn voi.”

“Đây, trước đây cái bãi đất trống này là nơi người ta thuần phục và tập cho voi rừng mới săn được. Nhưng bây giờ nó có dự án rồi, chuẩn bị trồng cao su đấy.”

“Mấy cái cột trong bãi có phải là nơi người ta buộc voi không anh?.”
“Trời ạ, ông khờ quá vậy, mấy cái cọc tiêu đó. Trước đây Chư Sê là vùng đất trồng tiêu nổi tiếng thế giới, chỉ có tiêu Chư Sê mới thơm và cay đạt tiệu chuẩn quốc tế thôi. Nhưng mấy năm gần đây, tiêu chết hàng loạt, giờ người ta phá tiêu trồng cao su.”

“Nghe nói trước đây cao su cũng bị phá sản mà?”
“Đúng rồi, sao su ở đây trồng chậm cho mủ. Nhiều nhà vay vài tỉ đồng đầu tư cao su, chờ suốt chín, mười năm mà vẫn không cho mủ, đến tuổi cho mủ thì nhiều mủ hơn nơi khác nhưng giá mủ lại rẻ bèo, không có người đến thu mua, vậy lại chặt cây cao su để trồng tiêu, điều. Giờ mấy thứ đó chết hết thì lại quay sang cao su. Không hi vọng nhưng phải trồng ông ạ, chứ không trồng, nó bảo mình bỏ hoang, nó thu hồi thì có mà đói cả lũ!”
 

Người thiểu số ngày càng lùi sâu vào rừng. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Anh Ngoạn dẫn tôi vào một nhà sàn gần bãi đất, theo anh nói là cháu nội của người săn voi giỏi nhất trong bản. Tiếp chuyện chúng tôi là một phụ nữ trạc 60, da đen, mắt sáng và có cái nhìn hơi hoài nghi. Khi nghe chúng tôi hỏi về chuyện săn voi, bà nói cộc lốc “Voi đâu mà voi. Thời bây giờ người ta hiện đại rồi, săn voi mà làm gì…!”

“Dạ không, tụi con đến đây để hỏi thăm về chuyện săn voi trước đây chứ không phải bây giờ!”
“Trước đây sao lại hỏi tôi, cậu bao nhiêu tuổi, tôi bao nhiêu tuổi, làm sao biết chuyện trước đây được!”
“Dạ, ý cháu muốn hỏi là cô có nghe ông kể về chuyện săn voi, rồi có kỉ vật nào của ông để lại cho cô không chứ không phải là săn voi bây giờ!”

“Nè, cậu không biết hay giả ngây đó? Tôi nói cho cậu biết luôn là tôi không còn gì để thu đâu, cậu đừng có chơi trò bỉ ổi đó. Trước đây cũng có mấy thằng, mấy con phóng viên nói là ở trung ương vào, hỏi, tôi thật thà kể với chúng nó chuyện ông tôi săn voi, rồi khoe cặp ngà voi gia bảo, giới thiệu những dụng cụ săn voi, trống da voi. Kết quả là nửa tiếng sau, chính chúng nó kéo công an tới đây tịch thu toàn bộ, nói là hàng quốc cấm gì đó, rồi đòi phạt tiền gia đình tôi. Xin lỗi cậu nha, gia đình tôi chỉ còn mấy cái quần rách thôi. Không còn gì để thu đâu!”

Nghe đến đây thì thêm một lần hỡi ôi. Chỉ biết xin lỗi, giải thích một hồi cho bà Hiếu (tên người chủ nhà) hiểu rằng tôi không hề có ý đó. Chúng tôi chỉ muốn đi tìm hiểu thông tin và viết bài, chúng tôi là những người cầm bút thật thà, không hại ai… Cuối cùng, bà cũng mở miệng và anh Ngoạn cũng bớt nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét. “Cậu biết đó, chúng tôi ở đây đã quá khổ rồi, đến mức đi làm thuê cũng không có lối thoát. Khổ lắm!”

“Làm thuê không có lối thoát nghĩa là sao cô?”
Thì muốn kiếm ăn phải sang Campuchia để làm, nhưng mình ở gần cửa khẩu mà không được qua, băng rừng qua là nó bắn chết liền, không thì nó nhốt tù mọt gông. Vậy là dắt díu nhau ra Quảng Trị để sang Lào làm thuê. Mười người đi có một, hai người về còn tiền, số đông trắng tay vì qua đó cũng thất nghiệp hoặc chủ nó chê mình không biết gì nên ép lương, mà mình không biết tiếng Lào nên chỉ làm cho các ông chủ người Việt ở bên đó. Họ ép lắm, làm cả năm chứ đòi lương là bị đánh à. Khổ trăm đường.”
“Mình có đất để trồng cao su, tiêu hay cà phê không vậy cô?”
“Có, nhưng trước đây, còn bây giờ nhà nước thu hồi nhiều rồi. Họ thu hồi xong thì bán cho người Kinh. Nhiều gia đình dân tộc cũng lo bán tháo cho người Kinh vì sợ để đó trước sau chi cũng bị thu hồi. Giờ đất chật người đông, khó thở rồi.”

“Mình đi chợ gần không cô? Con xin lỗi vì hỏi hơi tế nhị, mỗi tuần mình đi chợ mấy lần và mỗi lần tốn chừng bao nhiêu?”

“Không có định kì chi đâu cậu ơi! Khi nào có tiền thì đi chợ, không có tiền thì rau rừng, mắm muối chi đó cũng thành bữa! Sắp tới đây lo nhất là tiền điện, bây giờ đi đâu cũng hết dám đi vì xăng tăng giá, nóng cũng không dám mở quạt vì điện tăng giá. Chứ ăn uống thì có bao nhiêu đâu, chủ yếu là tiền điện với tiền xăng thôi! Nhà cô mỗi tháng đi chợ chừng 300 ngàn đồng. Nhưng tiền điện, tiền xăng có ít cũng tốn 500 ngàn, giờ còn tăng giá nữa thì chết, ai dám tưới cà phê, tưới cao su mới trồng…? Đã chết càng thêm chết. Chết vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của người nghèo khổ chúng ta!”

Tạm biệt bà, tôi cũng hết muốn đi thêm nhà nào khác, mà cũng hết muốn đi tìm dấu vết săn voi. Bởi những gì tôi chứng kiến, từ những tộc người thiểu số cho đến những người chế độ cũ miền Nam. Dường như gặp ai cũng chung tiếng thở dài...! Vậy nghĩa là sao?!


Advertising
Advertising
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang