Monday, 21/10/2019 - 12:35:22
Font-Size:

Kiếm sống trên Phá Tam Giang

Advertising


Chăn nuôi và canh tác trên những cánh đồng ngập mặn là một việc hết sức khó khăn nhưng phải làm mới đủ sống. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Thử hỏi, học nhiều thì đói, học ít thì làm Giám Đốc như vậy thì có mấy đứa hắn ưa cái chữ? Buồn, mình nghèo, xứ nghèo mà cái chữ không cứu được, cứ phải dùng đến lừa đảo thì mới có chút hào quang rồi vào tù…
 

Phá Tam Giang nhìn từ làng ngư Mỹ Thạnh. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Bài NGUYÊN QUANG

Cái lạnh đầu mùa, dù chỉ đang là tháng Chín âm lịch, đang là Quý Thu nhưng với những người dân sống ven đầm phá, đặc biệt là con phá rộng, dài, dữ tợn như Phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế thì màu đã sang đông từ lâu lắm rồi. Kiếm sống trong mùa mưa bão, đối mặt với những con sóng bất thường và môi trường đang xuống cấp trầm trọng, hải sản teo tóp, biển giã không còn hào sảng như xưa, có thể nói rằng bốn mùa trên Phá Tam Giang đều cho cảm giác nằng nặng mùa đông, buồn và ảm đạm. Như một định mệnh, những cuộc đời ở đây cũng nằng nặng với bản tính hồn nhiên, chân chất và cam chịu.
 

Thuyền chài truyền thống trên phá Tam Giang. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Môi trường xuống cấp

Phá Tam Giang, một con phá dài nhất nước với chiều dài khoảng 52 km, kéo dài qua gần hết tỉnh (bốn huyện duyên hải gồm Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà và Phú Vang) Thừa Thiên Huế, nổi tiếng hoang sơ và dữ tợn với những con sóng bất thường, những trận lốc xoáy có thể nhấn chìm bất cứ thứ gì. Dân gian có câu “Muốn vô mà chẳng dám vô/ Sợ truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang” nhằm ám chỉ cướp ở truông nhà Hồ và sóng dữ trên Phá Tam Giang.
 

Làng chài mùa đông, ướt át, vắng vẻ, hiu quạnh. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Nhưng sự hoang sơ, bí ẩn của Tam Giang cũng không kéo dài được bao lâu một khi rác đã trở thành nỗi ám ảnh của thiên nhiên và con người xứ Việt. Và đáng sợ nhất tại Việt Nam, không chỉ riêng Phá Tam Giang mà trên cả nước, đi đâu cũng gặp rác, rác ngập kênh mương, ao hồ, sông suối, rác chất thành núi ở gần khu dân cư, rác như một thứ đặc trưng để nhận dạng địa lý, quốc tịch.
Đời sống trở nên khó khăn bội phần bởi nhiều thứ, đặc biệt, đời sống của người đánh bắt trên đầm, phá càng trở nên tệ hại hơn. Ông Chiến, người đánh bắt lâu năm trên Phá Tam Giang, buồn bã “bây giờ, mỗi sàng ra phá chỉ còn như một chuyện hồi tưởng, làm thơ!”
 

Chuẩn bị buổi đánh bắt chiều và đêm. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Đi đánh bắt mà như chuyện làm thơ nghĩa là sao vậy bác?”
“Thì mình đi nhẩn nhơ cho qua ngày đoạn tháng chứ cá mắm bây giờ chỉ còn chưa được một phần mười so với trước đây. Hồi trước mùa nắng đi đánh bắt, mùa mưa thì ở nhà, bây giờ cả hai mùa đều đi đánh bắt mà cũng không đủ sống.”
“Có phải do quá nhiều người đánh bắt so với trước nên hải sản ít lại không bác?”
“Cũng đúng một phần, nghĩa là lượng người đánh bắt và các loại dụng cụ đánh bắt ngày càng ghê gớm hơn, trước đây chỉ có vài ba loại lưới, bây giờ có cả lưới giã cào, mà lưới này đi qua thì cá con cá mẹ chi dính hết, nên lâu ngày đầm phá cũng cạn kiệt. Nhưng đây chỉ là một phần thôi, phần chính là do môi trường, hắn (nó – môi trường) xuống cấp trầm trọng quá. Từ vụ Formosa, vùng biển Thừa Thiên Huế bị các dòng sóng đỏ, sóng đục, cá cũng chết, đủ thứ chuyện hết. Và phá Tam Giang là cái rốn các độc tố ngoài biển tụ tập ở đây nên hắn chết dần chết mòn! Nhưng chưa dừng ở đó, hắn còn bị nhiều thứ nữa.”
“Nhiều thứ nữa là thứ gì vậy thưa bác?”

“Các quán nhậu trên đầm, phá bây giờ nhiều quá, rồi nuôi thủy hải sản trên phá, mấy thứ thức ăn trong khu vực nuôi trôi ra ngoài làm cho hải sản tự nhiên chết vô số kể. Rồi nước dơ từ ba con sông đổ về, sông Bồ, sông Ô Lâu và sông Hương bây giờ cũng đâu còn sạch sẽ chi mô! Rác rến đầy, mọi cái ống xả đều đổ vào đó, xả thẳng ra phá Tam Giang. Mà cậu biết rồi đó, người ta gọi nó là Phá Tam Giang vì nó là cái phá có ba con sông đổ vào. Ba con sông này trước kia là nguồn nước ngọt quí báu, đổ vào phá, hòa với nước biển cho nước xà hai, các loại hải sản và sinh vật nước lợ nhiều vô kể, từ con sứa cho đến con mực, con tôm, con cá, con chi cũng ngon. Bây giờ thì èo ọp, được chăng hay chớ lắm!”
“Trước đây chừng mười năm, một ngày mình đánh được chừng bao nhiêu ký cá và bây giờ thì chừng bao nhiêu ký vậy bác?”

“Trước đây thì không cần đi cả ngày mới có cá đâu! Có khi ra gặp luồng cá là quay về, đầy ghe, chừng trăm rưỡi tới hai trăm ký cho một buổi sáng là bình thường. Bữa nào trúng là trúng những con cá ngon, cá nước sâu, cá quí ngoài khơi hắn vô. Chứ còn cá trong đầm là bình thường. Hồi đó, đi làm một ngày, có khi ăn cả mười ngày, nhờ vậy mà có chút dư giả làm cái nhà, chứ bây giờ mà làm nhà thì có mà kiếp sau. Giờ mỗi ngày kiếm được chừng năm ký cá (5 kg) là quá mừng rồi! Giờ cá hiếm lắm. Mùa nào cũng phải làm mới có mà ăn, không như trước đây mô!”

“Hải sản trước đây không có giá mấy, giờ cao giá, liệu có bù qua được không bác?”.
“Bù chi mà bù! Ngày trước đánh đánh bắt chỉ cần chèo thuyền ra, giờ phải đi bằng ghe máy ra ngoài xa mới có, chứ chèo xa quá mình chèo không nổi nữa, mà xăng cộ thì tăng giá ào ào, còn thêm nữa là ngày xưa tuy giá cá thấp nhưng mọi thứ vật giá cũng thấp, giờ vật giá leo thang, cá có đắt thì cũng vậy, mà ít cá nữa nên chả có ăn thua chi! Mà bây giờ khổ, vì xưa giờ mình kiếm sống trên phá, làm nhà trên bờ, mấy chục năm kiếm ăn nhưng lại chẳng để ý tới chuyện giấy tờ nhà đất, giờ đùng một cái du lịch về, đất đai động đậy, có muốn làm giấy tờ cũng tốn kém vô kể, có khi cả chục triệu đồng. Ở dưới nước thì đói mà lên bờ cũng không yên cậu ơi!”

Thời du lịch, nghề nông như một thay thế

Khi nghề đánh bắt trở nên hẩm hiu, không còn kiếm ăn được như xưa thì người đánh bắt cố gắng lên bờ để thuê đất trồng trọt. Những vườn rau sạch của họ là nguồn thực phẩm sạch cho người tiêu dùng, nhưng nghiệt nỗi, ở xứ nghèo, ở nơi heo hút, việc tìm một bó rau, củ su hay ký khoai… Người ta ít quan tâm đến giá trị sạch mà quan tâm đến trọng lượng và giá rẻ hay mắc. Chính vì vậy, việc trồng rau, hoa màu của người làm nghề đánh bắt đang cố gắng chuyển nghề ở các xã ven Phá Tam Giang, thuộc huyện Quảng Điền cũng khó khăn không kém.
 

Nghề trồng rau cũng gặp nhiều khó khăn do thời tiết. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Kè chống sóng mới được xây dựng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Cũng xin nói thêm, hầu hết những căn nhà cấp bốn và những căn nhà tạm bợ xây dựng, che chắn quanh phá ở huyện Quảng Điền khác xa những khu nhà sầm uất, thịnh vượng bên cạnh phá ở huyện Phú Vang. Nếu như hầu hết nhà và mộ ở Phú Vang đều ở hạng villa, biệt thự nhờ vào nguồn tiền của người thân gửi từ hải ngoại và nhờ vào không khí sinh hoạt, kinh doanh chung đã phát triển thì cũng ven đầm, phá, những căn nhà ở Quảng Điền chỉ cần một trận lốc vừa phải đã trơ nóc. Người dân nơi đây, đàn ông hay đàn bà đều ban ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chiều lại thì đi đánh bắt, khuya lại về, chợp mắt một chút lại mang cá ra chợ sớm để bán. Nhưng thu nhập của họ cũng chẳng thấm tháp vào đâu.
 

Sản lượng hải sản ngày càng eo hẹp, dụng cụ đánh bắt trở nên vô dụng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Bà Tôn Nữ Thị Mai Quế Lộ, thuộc dòng dõi vương tôn, đã có nhiều đời bám trụ sống lây lất bên đầm phá vắng vẻ này kể từ sau tháng Tám năm 1945 đến nay, chia sẻ, “Chủ yếu là kiếm sống qua ngày thôi, vùng này còn nghèo lắm. Ngày xưa đường sá chưa có khổ kinh niên, giờ đỡ hơn chút, còn sắm được chiếc xe máy để mà đi!”
 

Một góc mùa đông trên phá Tam Giang. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Xin lỗi, cháu hỏi hơi tế nhị một chút, bình quân mỗi ngày mình làm cá kiếm được chừng bao nhiêu vậy o?”
“À, không chi mô, câu hỏi bình thường, không có chi mà phải rào đón, bình thường mà! Trung bình hả? Cái này khó nói lắm, vì có khi o kiếm được cả triệu đồng cho mỗi ngày đêm vì trúng mẻ ngon, nhưng cũng có khi cả tuần không đủ mua gạo. Nhưng mà nếu chia trung bình thì một đêm đánh cá cộng với một buổi đi bán cũng được chừng trăm rưỡi (150,000 đồng, tương đương $6.5 USD). Thường thì mình làm đồng, trồng hành tỏi, ớt, dưa, mỗi vụ nếu trời không mưa nhiều bán kiếm cũng được vài triệu đồng. Một vụ chừng ba tháng, kiếm được ba triệu đồng là quá mừng rồi. Cộng thêm với tiền mình làm cá, cũng đủ nuôi con ăn học.”
“Trẻ em ở đây đi học đầy đủ không o? Và có nhiều người vào đại học không o?”
“Nói chuyện này nghe ốt dột lắm. Có được vài đứa học tới đại học nhưng giờ đời sống lại nghèo khổ, lâu lâu phải chạy về phụ đánh cá với cha mẹ mà kiếm gạo. Còn mấy đứa bỏ học sớm, vào Nam làm thuê làm mướn bây giờ lại thành đạt kinh khủng, có mấy đứa làm tới chức Giám Đốc. Mỗi khi nó về thì cả mấy chiếc xe hơi rình rang lắm, nhưng nó không nói là làm chi. Mãi đến khi tụi nó bị bắt vì lừa đảo, vì phá rừng trên Tây Nguyên thì mình mới biết nó làm Giám Đốc. Thử hỏi, học nhiều thì đói, học ít thì làm Giám Đốc như vậy thì có mấy đứa hắn ưa cái chữ? Buồn, mình nghèo, xứ nghèo mà cái chữ không cứu được, cứ phải dùng đến lừa đảo thì mới có chút hào quang rồi vào tù…”

“Gần đây du lịch bắt đầu về khu vực phá huyện Quảng Điền, nhà nước có cả dự án lớn về sân khấu rồi ánh sáng gì đó ở đây, o có theo dõi không? Có mừng không?”
“Có, họ làm sân khấu nghe nói tốn cả chục tỉ đồng, rồi tổ chức tập luyện chi đó nghe rôm rả lắm, nhưng tới bữa diễn thì họ rào lại, bắc ghế bọc nhung cho mấy ông cán bộ coi, dân mình có vào coi được đâu. Ai thích thì đứng bên ngoài theo dõi cái màn hình lớn. Rồi xong chuyện đó, dân mình kiếm được mấy cái vỏ chai đựng nước bằng nhựa bán được vài đồng chứ chẳng có hưởng được chi mô! O ban đầu nghe cũng mừng, nhưng thấy nếu mở rộng du lịch chi đó thì cũng chẳng có quan hệ chi tới mình, giỏi lắm thì bán chai nước kiếm tiền chứ cũng chẳng có ai về đây ở trọ để mà xây nhà trọ. Mà có xây nhà trọ hay khách sạn thì các quan có nhiều tiền họ về xây chớ dân mình lấy mô ra tiền mà xây? Dễ chi mà đi vay để xây khách sạn hay nhà trọ. Hi hữu lắm! Thêm khổ thì có!”
 

Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh làm cho môi trường càng thêm xấu đi. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Ủa, sao lại thêm khổ vậy o?”
“Hồi chưa có du lịch, đất đai chưa biến động, tình làng nghĩa xóm còn, giờ mất dần. Không phải là mất do giành đất đâu, mà mất do buồn!”
“Mất do buồn là sao vậy o?”
“Thì trước đây mấy chục năm, làng đây cứ mạnh ai lên cắm dùi, làm nhà trên bãi đất trống ven đầm, phá. Sau mấy chục năm thì nên nhà cửa, vườn tược và nghĩ rằng mình ổn định. Ai dè có du lịch về thì sốt giá đất. Người ta mới ngã ngửa ra là mình không có giấy tờ chi hết. Mới chạy vạy xin cấp giấy thì chính quyền lắc đầu. Nhưng họ cũng cấp cho một số gia đình, các gia đình có giấy tờ lại lấn lướt, kèn cựa, lấn nửa mét, có nhà lấn vài mét sang vườn nhà khác. Đâm ra mọi chuyện trở nên tệ hại. Hóa ra du lịch chưa mang tiền tới mà đã mang họa!”
“Cái này do chính sách chứ đâu phải do con người mà o buồn?”
“Biết là do chính sách nhưng mà con người mình, nói xin lỗi, người Việt của mình khổ quá, qua chiến tranh, rồi qua thời bao cấp, rồi đói khổ, xếp hàng giành giật từng miếng ăn, đến thời mở cửa thì léo hành, lạn lách, đội trên đạp dưới… Đâm ra không riêng chi nhà nước xấu xa mà người dân cũng trở nên xấu xa. Nhà nước nó xấu xa có lý do của nó, đó là nó tranh miếng ăn béo bở, còn mình dân nghèo với nhau, nhường nhau mà sống chứ răng lại kèn cựa nhau làm chi cho tội cái thân mình!”
Nghe o Tôn Nữ Thị Mai Quế Lộ chua chát nhận xét về đời sống quanh đây mà tự dưng buổi chiều trở nên lạnh se sắt, khó tả. Dường như mùa đông đã về trên Phá Tam Giang sớm hơn so với thường lệ. Bởi cái lạnh của lòng người đã bắt đầu kể từ khi những chương trình, dự án nhà nước xô dạt đến nơi bình yên này!


Advertising
Advertising
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang