Friday, 27/11/2020 - 02:39:46
Font-Size:

Đồn điền cao su, phía Đông của Vườn Địa Đàng

Advertising


Thuở tôi mới lớn. Với ba tôi...và vận nước


Bài LÝ KHÁNH HỒNG


Tôi bắt đầu có cái nhìn về Ba tôi nhiều hơn, ở cái lúc tôi lớn đủ, để ghi nhớ các việc.Lúc đó, Ba tôi đang làm việc cho một đồn điền Cao su của người Pháp.

Nhà tôi, tôi nhớ, ở chung với nhiều nhà khác trong một vùng, có vẻ rất riêng biệt. Cái riêng biệt, cái tịch lặng, tràn đầy. 

Đầy trong không khí đã đành. Nó còn như thành một lớp đặc quánh bao trùm cả những con người đang sống trong đó. Khiến cho dù có sống, có sinh hoạt. Cả một đám đông người “của cả làng chúng tôi” cũng chỉ loay hoay, chộn rộn ở một góc riêng. 

Cái riêng biệt đó, cùng với những tịch lặng và êm ả vây quanh, cùng những thương yêu tôi có được thời tuổi nhỏ của tôi ở đó. Tự nó, nó như  đã đóng vảy trong trí tôi, hay đã tự lúc nào hằn sâu trong tâm khảm tôi, tạo thành ấn tượng khó quên. Tôi vẫn nhớ. Như Lưu, Nguyễn về trần vẫn nhớ Thiên thai.

Cả vùng, nơi chúng tôi ở, được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai. Cái hàng rào mà những cọc sắt của nó không thôi cũng đã khiến tôi thấy mình thấp bé hẳn đi! Trước mắt tôi, hàng hà những cọc sắt, cứng ngăn ngắt, ngay hàng, thẳng lối. Những cọc sắt, chúng sừng sững vươn lên, đã cao hơn đầu người. Chúng là phên, là dậu. Chúng nâng đỡ cái hàng rào.

Hàng rào có một cổng. Cao. Cửa hai cánh. Gồm những thanh sắt hàn chắt vào với nhau. Lớn lắm.

Người ta chỉ mở cổng khi cần. Rồi thì đóng lại ngay.

Bên trên cái cổng. Tít cao bên trên, là một cái tháp canh. Lúc nào cũng có lính ngồi trên ấy. Bất kể đêm ngày.

Cái hàng rào, cái cổng và cái tháp canh này. Chúng dù vô hồn nhưng là  chứng tích sống, là điểm chuẩn cho cái địa điểm của một chỗ, cái nơi mà khi tôi kể lại chuyện sau đây. Tôi có thể chỉ vào chúng và nói…..Ở ngay nơi đây, bên cạnh cái cổng này và trên cái chòi canh này có một chuyện đã xảy ra. Chuyện có dính líu tới Ba tôi.

Chả là vào thời gian này đời sống con người ở vùng chúng tôi ở, còn gắn liền với thiên nhiên.. Rất nhiều. Nhiều đến nổi, có một đêm.

   Cọp đã vào, nơi chúng tôi ở!!!

   Không kể gì rào cao, chòi gác.

   Con cọp rõ ràng đã ung dung lởn vởn quanh chuồng heo của một nhà trong làng. 

Mà chẳng ai hay! 

Sáng ra, thấy dấu chân cọp để lại đầy khắp cái sân đất ẩm ướt quanh chuồng heo. Cái thì như là dấu chân của cọp khi nó ngồi rình. Cái thì nhòe nhoẹt, kéo dài, như là dấu để lại khi  nó muốn nhảy vào chuồng mà không xong. Còn những cái dấu chân khác, dậm sâu, in hằn, thành dấu vào đất. Kiểu như bực bội,phải loanh quanh, lởn vởn mãi;  mà rồi lại phải bỏ đi….

   Dấu chân nào cũng to bằng cái bát. Đủ biết con cọp này nó to cỡ nào!

   Không “ loạn rừng “ mà cọp tự nhiên chạy vào làng! 

Ai cũng nghĩ, vì nó đói.

Nó đã rình nhà này. Nó cũng có thể rình nhà khác. Đêm nay nó rình thì đêm mai cớ gì mà nó không rình. 

Nó đã vào được một lần, là nó quen lối. Lại đói.Chém chết nó cũng sẽ vào nủa.

Ai ai cũng thấy sợ và lo. Chẳng những lo mất heo. Mà còn lo có khi mất mạng.

Lúc này là lúc mọi người, ai cũng tha hồ, dốc ra hết những hiểu biết về con cọp, vị chúa sơn lâm đầy huyền thoại mà cũng đầy mụ mị khó tin. Người ta, nào là sợ cái tinh khôn của cọp đến không dám gọi đúng tên. Nói tới cọp người ta phải nói là “ông ba mươi,” “ông Yểm,” để nó không biết mình đang nói về nó. Người ta còn sợ “Ma Trành” của cọp, là những hồn oan đã chết vì bị cọp vồ. Người ta tin, các con ma này luôn quanh quẩn bên cọp và sẽ giúp cọp vồ người khác chết để thay chổ cho chúng. Còn sợ những huyền thoại thù dai và khi đã có thù, nhất quyết phải trả của cọp….Tóm lại, càng biết, thì càng có lý do để sợ. Sợ rúm người.

Thế là phải đến “Thầy Ba,“ là Ba tôi, phải giải quyết.

Tôi không rõ lắm, là bằng hiểu biết nào, hay bằng cách “ nói chuyện phải quấy “ ra sao mà sau hai đêm rình rập. Ba tôi và những người phụ giúp ông đã mời được “Ông Yểm.“ 

Để “ông” bằng lòng. Để “ông“ quá bộ đến chỗ mà Ba tôi đã dọn sẵn một con heo sống cột làm mồi nhử  “ông“ ở bên ngoài vòng rào.

Và  “ông“ đến để lãnh đạn của Ba tôi, khi Ba tôi quấn mền ngồi yên trên chòi canh. Chờ ông , Cả đêm.

Chờ ông đến, nạp mạng!

Những chuyện như vậy đã ghi trong đầu tôi thật nhiều hình ảnh của Ba tôi. Nó thực, thực không thể cãi chối.Vì rõ ràng, những chuyện xảy ra, tôi có mặt.

Nhung trong suốt tuổi thơ tôi, cuộc sống của Ba tôi phủ mịt, phủ mờ nhiều điều ông làm mà tôi không rõ. 

Cũng đành đi. Cho là vì còn nhỏ. Nhưng quả thật,cho đến bây giờ, hình bóng ông trong tôi,vẫn như là gắn liền nhiều hơn với cái dáng dấp của một con người huyền thoại, kiểu đó. 

Con người ông, nói sao cho phải đây?

Có lúc tôi đã thử so sánh để tìm hiểu. Bằng cái nhìn về những người cha khác, đương thời với Ba tôi.

Bằng cách ấy. khi chọn những điều như là: Cùng quê, cùng “rời nhà khi còn trắng tay.” Cùng “ Làm nên sự nghiệp,”  ở  “quê người.”

Cho giống với Ba tôi.

Tôi có ngay trước mắt. Ông Bảy, thương gia. Lãnh vực ông chuyên trị, kỹ nghệ Dệt, xuất nhập cảng vải vóc,..

Ông họ Phan.Người Quảng Trị. “ Ra đi chỉ với cái cặp.” như lời ông nói, mỗi khi nhắc lại chuyện ra đi lập nghiệp  Và sự thành đạt của ông là  từ “ trắng tay”  trở thành thương gia giàu có nổi tiếng ở Sài gòn, miền Nam Việt Nam; trước năm 1975.

Ông là phụ thân của Alan Phan.

Ông Alan Phan cũng là một thương gia nổi tiếng trong giới kinh doanh người Việt ở ngoài nước, từ sau năm 1975. Ông làm ăn ở Hoa kỳ. Ông cũng từng có cơ sở đặt ở Hong Kong, ở Tàu.

 Là một thương gia quốc tế. Ông, cũng là người với “ Góc nhìn của Alan Phan “ một thời làm say mê một số người trẻ trong nước, sau 1975,  với nhiều kinh nghiệm về “kinh tế thị trường.” Ông đang mang những hiểu biết kinh tế thị trường về sống thật với cái xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa ở Sài gòn. Nơi mà Kinh tế thị trường đang được dùng với cái Định hướng Xã hội Chủ Nghĩa.(Sic)

 Tôi không quen ông Alan Phan.   Một người bạn vong niên của tôi, để giúp tôi, chú ấy bắt đầu quen Alan P.những dịp chú ấy về nước vì công việc của hảng. Công ty HP, nơi chú ấy làm việc.     

 Để gặp được ông Alan P.con đường trước mắt sẽ chẳng khó lắm. Người bạn vong niên của tôi và Ông P. sắp gặp lại nhau ngoài này. Người bạn nhỏ của tôi chẳng tiếc gì mà không giới thiệu tôi.

Nhưng từ giới thiệu đến quen? Còn tùy. 

Lại là chuyện gia đình. Không thân sao tiện hỏi!!!

Một con đường khác. Dù cũng qua giới thiệu nhưng chắc ăn như bắp. Qua một người bạn vong niên khác của tôi. Tưởng năng Tiến. 

Qua quen biết của ông Alan P. và người bạn nhỏ trước đây, những tin tức về ông dần dẩn tôi đến chỗ biết ông là cháu của Tưởng Năng Tiến.

Ngở là với cái thân tình giửa chú Tiến và tôi, khi tôi “ép” chú. Chú sẽ làm được việc này cho tôi. Dù trong chúng tôi. ai cũng biết chú dở nhất thế giới, và ghét nhất thế giới những xã giao, giao tiếp, giới thiệu lỉnh kỉnh này.

 Tưởng vậy mà không phải vậy!

 Ông Alan P. sẽ không bao giờ cho tôi cái dịp được quen ông. Dù là qua cửa “ngoại giao” nào.

 Ông mất,  trước khi tôi rán “ lết “ tới gần.

 Thành ra những tin tức về Ông Bảy, tôi muốn minh xác, muốn tìm biết thêm,  đành qua cái biết ít ỏi của bạn tôi về ông anh rể của chú ấy.

Quả thật ông anh của bạn tôi khi rời nhà ra đi lập nghiệp, tay không. Rồi là làm giàu. 

Nhưng làm làm sao? Sao mà biết!

Điều biết được, Ông anh rể của bạn tôi được bạn tôi ghi nhận, ông ấy tằn tiện ghê lắm. 

Không tằn tiện,  sao mà giàu cho được! Cái biết này, biết cũng như không!

Những cái biết tiếp theo về ông mà tôi thấy ở con người Quảng trị nào cũng có.

Ba tôi cũng có.

 Đó là với những ông Quảng trị này, bao giờ thì sau người nhà, là các ông ấy có ngay những  “ngoài làng,” “người ngoài làng,” có khi là “người ngoài miền.” trong ưu tiên checklist.

Về những người ngoài làng, người ngoài miền, Tiến kể thêm đối với ông Bảy, đáng kể nhất phải là người có họ Phan.

Và Tiến chấm hết câu chuyện ông Bảy cho tôi bằng câu hỏi. Anh nghĩ coi, được không, vậy mà Ái (Tên khai sanh của Alan P.)  nó về làng, bỏ ra….(bao nhiêu trăm ngàn, tôi không nhớ con số) xây cất một ngôi trường thật lớn, mang tên ông già nó ….PHAN….

Cách xài tiền đó. Khác với bố nó. Ý của TNT, Ông Bảy, vốn rất tằn tiện!...không xài như vậy.

Mà người xài tiền cho những người còn ở VN, xài một cách vung tay. Như TNT.. Cách xài này , Alan Phan,  xài thay cho Ba của anh, TNT thấy,...  Anh coi có được không?! 

Ý TNT, ngoài cách xài cho VN của chú ấy. Người nào xài khác với cách đó. Bị hỏi liền. Coi được hông?

Coi có được hông? Nhưng lại giống cách xài vung tay quá trán của  Ba tôi. 

Nên ông Bảy, ba của Alan Phan, giàu.

Ba tôi không giàu.

 Có lẽ phải tìm biết thêm, ở một vị khác.

Tôi tìm được.

Trong Wikipedia của bạn tôi,...

 Cha anh, người Cần Giuộc, Long An

Qua tiểu sử, anh sinh ra ở Ban Mê Thuột. Có nghĩa, cụ ông ( có thời?) lưu lạc hay sống đâu đây. Một ông bỏ nhà đi lập nghiệp phương xa. 

Ba tui cũng giống,...

Còn qua phỏng vấn của RFA, thì rằng : Ba anh “ hay đón tiếp các nghệ sĩ cổ nhạc đến nhà đờn ca.”  Rằng, Ba anh kéo violon rất hay. Rằng là, Phan Ni Tấn (PNT) lúc nhỏ “ lấp ló bên cửa lắng nghe cha kéo violon.” Lớn lên “ được cha hướng dẩn về nhạc.”

 À há, Thay vì như Trịnh công Sơn,  “ Gia tài của Mẹ,”…” một lũ bội tình.”

Người ta thấy PNT trân trọng cái gia tài Ba anh để lại cho anh. 

Anh không thể…là “ một lũ bội tình.” Khi anh đã coi “tài năng“ âm nhạc của mình, cái gene âm nhạc, là của “ ông già “ anh để lại.  

 Không những không quên. Phan ni Tấn còn muốn chúng ta biết thêm về Ba của mình.

Qua bài viết của chính anh, “Người thợ săn vô danh của vua Bảo Đại.” ngoài việc nhắc lại con người nghệ sĩ của Ba anh và ngón đờn mùi rệu. Ngón đờn, anh vẫn mê mẩn nghe, như anh đã trả lời phỏng vấn của RFA.  Anh muốn khoe với chúng ta cái khác. Mà anh không tiện nói ra.

 Sẽ có người nói, PnT cái gì mà không dám nói.

 Chuyện đất nước, “ Cộng Sản,” “Tự Do,” anh đâu ngại nói.

…..” Con viết hai lần sai chữ Communist.

Con viết hai lần sai chữ Liberty.“

Chuyện chết chóc trong chiến tranh, anh cũng chẳng hề né tránh :

“ Làm sao được?! Làm sao được?!

Bởi anh con vừa chết!!!”….

 Có chăng, anh khó nói chỉ vì anh có chút “tư tâm,” lần này.

 Anh ngưỡng mộ, ca tụng một nghệ sỹ. Mà chỉ có anh may mắn có dịp được biết. Chúng ta những người đọc anh bây giờ khó lòng cùng ý nghĩ với anh, anh nghĩ như vậy.

 Làm sao, anh muốn lắm,làm sao anh chia xẻ được. Nào là, ông nội mấy đứa nhỏ nhà tôi, Ba tôi đó,Ba tôi giỏi hơn tôi nhiều. Là một điều PnT muốn nói.

Ông là một nghệ sỹ thứ thiệt.  Bảo tồn cái cổ lỗ của đất nước, nhạc cổ nhạc. Hòa với cái réo rắt của cây đờn mà người sản xuất nó chỉ dùng trong dòng nhạc quay lượn rập rềnh, mênh mang, vang vọng của đại hòa tấu, của cổ điển, của nhạc thính phòng tây phương. 

Một kết hợp không có sự cảm thông cao độ, không có tính nghệ sỹ đố ai làm được.

Là điều thứ hai PnT muốn nói.

 

Cây đờn violon tây phương rất mực quý phái, và rất mới lạ với dân ta. Mà ông, phụ thân của PnT, khi chơi nó, PnT muốn chúng ta thấy, như đã bay lượn, réo rắt, trong những mênh mang của nhạc dân tộc  gồm những Nam ai, Nam xuân, Vọng cổ….  Trong giòng nhạc dân gian đầy âm hưởng trầm bổng, thê lương, buồn rệu,..của những con người thời “mở cõi,” chỉ có ở miền Nam đất nước. 

Ông, một người Việt Nam tồn cổ, khi phải đối diện với những  mới mẻ văn minh sau này. Ông nhận nó “cái một,”  “ dễ như ăn cơm sườn.” 

Không hề sợ sệt, e dè. Lấy vĩ cầm đờn vọng cổ.   

Cái mới mẻ văn minh Tây phương, bao gồm cả môn thể thao săn bắn mà ông Ba Lô, một người thợ săn khét tiếng ở Ba mê thuột đã gặp, và đã “ phải lòng.” 

Với người Việt Nam, đây cũng là một du nhập mới. Ta quen nó qua những hoạt động của người Pháp hoặc những người quen với những hoạt động kiểu người Pháp. Một trong những người Việt loại này, ông cũng nổi danh như ông Ba Lô về chuyện săn bắn. Vua Bão Đại. Nhưng cái nổi danh của vị vua này thiên nhiều hơn về phía, “thích” hơn là săn bắn. Ông Ba Lô, ông sống, ông lăn lộn trong cái mới đó,

 Ông Ba Lô, người thợ săn nổi danh, khét tiếng, tài nghệ săn bắn khó ai bì. Lại là người thợ săn vô danh của vua.

Lẻ loi và vô cùng ngắn gọn. Hàng cuối của bài viết. Phan ni Tấn viết,

“ Ông Ba Lô là Ba của tôi.”

Chấm hết!

 

Ba tôi. Ông ở đâu? So với Ông Ba Lô là Ba của ….bạn tôi?

 

Nghệ sĩ? 

Ba tôi không có tài chơi đờn….gì hết ráo. 

Chỉ có cái thích nghe. Thích nghe lắm. Cũng cổ nhạc. Nhưng phải cổ nhạc Trung phần. 

Ân cần tiếp đãi, gặp gỡ những người ông ái mộ?. 

Khỏi chê. Cũng cở  của Ba PNT. 

Sợ còn có phần hơn. Cho bù vào cái phần “ thiếu.” Thiếu cái Nghệ sĩ thật. Mà chỉ trơ cái Nghệ sĩ tính!

Để có được “ôn”, ( Mệ )  Vĩnh  Phan, (?)  tay đàn tranh quý tộc Trưởng ban của Ban Cổ nhạc Trung Phần Đài Phát thanh Quốc gia Sài gòn là bạn, ông già tui còn phải bắt cầu qua bao nhiêu là ông bạn danh giá khác. Còn khó được họ coi như bạn, so với tự thân mình làm quen với mệ. Thử nghĩ. Họ.  Các ông Đại tá Đinh Sơn Thung, Đại tá Phan Đình Thứ ( Tướng Lam Sơn,)...trong mối tình đồng hương. Ba tôi có sẵn

Còn theo đòi những cái mới của Tây phương. Cũng dễ ợt.

Cũng săn bắn. Nhưng để có hoạt động. 

Còn những cái khác. Có dịp tôi xin kể. Cái nào cũng dễ ợt như ba của bạn tôi chơi đờn Tây mà... đờn nhạc ta.

Riêng trong con đường đi vào đường Tu mà người cha nghệ sĩ của bạn tôi chọn vào cuối đời. Ông Ba Lô, lo kinh kệ. Quy y Pháp. Ba tôi đành chào thua.

Ông già tôi. Thay vì đi tu. Ông đi tù. Đi tù. Tù Pháp.

Ba của bạn tôi. Tu.  Tại gia. Quy y Pháp, phải rồi. 

Phải không? Quy y Phật, quy y Pháp , quy y Tăng. Trong tam bảo, ông quy y Pháp.

Ông già tui ở tù, thời Pháp. Tù Pháp. Pháp với cái trần tục là kẻ thù của dân tôi. Chứa đầy sân si, thù hận.

Nhưng. Rõ ràng. Là tù Pháp. Có gì sai?

 

 

 

“ THẦY BA.”

Mà sao lại ở tù?

 

Nhìn lại cái vị thế của Ba tôi trong công ty.

  Trong tổ chức của công ty. Nhất là ở trong cái vùng được bao quanh bởi cái vòng rào kể trên. Ngoài hai người ngoại quốc, đang có ở đó. Ba tôi là người “ quan trên nhìn xuống, dân đen ngó vào.” Của phe mình.

Trong hai người ngoại quốc, một là “ông Tây xếp bót,” chỉ lo an ninh. Ông này ở ngoài cán cân quyền lực. Không kể!

   Ông tây kia, trên danh nghĩa là “ông Phó.” Làm sếp phó cho ông Chánh. Ông sếp chánh này mới là người coi ngó toàn công ty. Ông ở một nơi khác, không ở đây. 

Vậy là ở cái nơi mình đang nói tới. Ba tôi ở vào cái thế “năm mươi hai chỉ kẹt một” thôi, của người đánh phé.

  “Quyền cao chức trọng” chỉ dưới “thằng Tây cổ đỏ.” Thằng tây cổ đỏ là tên mà người mình dành cho ông phó vì cái cổ ông lúc nào cũng đỏ như mặt đỏ của người uống rượu.

   Nghe cái cách “dân mình” gọi ông phó. E rằng ở đó, Thầy Ba mới là người “quyền lực trùm đời.”

   Đã vậy,có điều phải nói thêm về cái nét đặc biệt của cái nơi Ba tôi đang làm việc. Chính với cái đặc biệt này mà thầy Ba mới dễ thành “Trâu đầu đàn.” Cái đặc biệt đó là sự sống cách biệt của cả đám người chúng tôi.       

   Vùng đất chẳng những chỉ bị quây kín trong vòng rào. Mà nó còn lọt thỏm trong bạt ngàn những cây cao su. Hàng ngang, hàng dọc. Nhìn thẳng, nhìn xéo. Nhìn lối nào cũng thấy tăm  tắp những hàng cao su thẳng lối.

   Chỉ có cây cao su. Người sống trong vùng đất này bị quây tròn bởi những hàng cao su tít tắp. Về không gian.

   Về cuộc sống. Mở mắt, họ cũng chỉ nhìn thấy cây cao su. Làm việc, cũng chỉ là với cây cao su. Sướng, khổ, dựa vào cây cao su…  

Họ sống quây quần với nhau như thế và như là không hề còn có ai khác bên ngoài.

 Dĩ nhiên là có. Sao lại không. Bằng cớ sờ sờ ra đó.

  Hai ông Tây. Hai cái ông “ mắt xanh, mũi lõ, “ ăn nói “ xí xô xí xào,” chả giống ai này làm gì lại không phải là người ngoài. Có khi còn là người “ ngoài Hành tinh “ nữa là khác.

Ở ngoài đến, họ sống thế nào? Ảnh hưởng gì trên cái làng này không? Đầu tiên hãy nói đến “ cái ăn, cái ở “ của họ.

Cái làng họ sống chung với mình, cùng cái làng đó,phía mình gọi tên Làng, là Vườn Ngô. 

Tây họ lại gọi với nhau và ghi trên giấy tờ : village La Mare. Chắc chỉ để nhắc đến, trong làng có một cái Bàu nước, khá to. Đủ để được xem là đặc điểm thiên nhiên, dễ nhận biết trên địa hình ( La mare,nghĩa tiếng Việt mình: là cái Bàu nước.)  

  Cái Bàu nước này đối với người Pháp chỉ là cái Bàu. Nếu hỏi họ về nó. Hoặc cố truy hỏi để biết cái Bàu này có ý nghĩa gì với họ. Cùng lắm là họ sẽ nhún vai trả lời : c’est la mare, seulement! Giản dị như mình hay đùa giỡn khi nói “ Đời , c’est la vie.” Đời là thế! Chỉ là cái Bàu.

 

 

Nơi tôi lớn lên,...một chỗ để nhớ,...

 

 Với tôi, cái Bàu này nó có lần đã làm tôi phải khóc.Nó như một con quái thú ngoạm mất của tôi một mảng lớn tình cảm thiêng liêng tôi trân quý. Nó làm chết một người bạn tôi. Thằng Hỏa. Bạn tôi chết đuối ở cái Bàu này. Và sau ngày nó hại bạn tôi, tôi vĩnh viễn mất bạn tôi trong đời. Và cũng sau ngày ấy, cái Bàu đó với tôi rất khác. Chẳng những tôi ghét nó. Mà tôi còn sợ!

  Bảo sao không sợ. Bao nhiêu người đã kể đi kể lại những câu chuyện người chết đuối thành  “ Ma da.” Mà khổ thay con ma da đó, để thoát khỏi kiếp ma da, chuyện kể thêm rằng nó chỉ nhắm vào những người thân cận, yêu thương và gần gũi trước đây. Những người này là dễ dụ để chết,  thay chỗ cho nó nhất.

  Và khổ nhất cho tôi. Ở tuổi ấy, ngoài ông già Noel, còn những Ma Trành, Ma da, Ma xó,...Đều có thật với suy nghĩ của tôi. Tôi tin họ có trong đời sống tôi. 

Đã vậy, Tôi và Hỏa từng là bạn thân! Và khi còn sống bạn tôi thương tôi lắm!!! Tôi là cái người Hỏa nó “thân cận, yêu thương,gần gũi” chứ còn ai?!!! Chối sao được!

Tình Thân với bạn, Yêu thương của bạn, Mạng sống của tôi. Tôi chả muốn mất đi hay phải bỏ đi một cái gì! Tôi biết làm sao?!!

  Mới chỉ nhắc lại cái tên làng không thôi. Tôi đã bị lôi vào bao nhiêu là hệ lụy!

  Thôi thì hãy trở lại với “ cái ở “ trong làng. Nói về nhà cửa.

  Nhà ở dây toàn là nhà gạch, tường xây. Mái lợp ngói đỏ,sàn tráng xi măng. Đó là nói về những căn nhà dành cho công nhân.

 

 

 

Những căn nhà này xây vào thập niên 1930 – 1940 (?).  xinh xắn và gọn gàng. Đủ cho một gia đình lý tưởng, một cặp vợ chồng, vài ba đứa con. 

Với tôi, cho đến bây giờ,( những năm 2000,..này.) những căn nhà như thế của ký ức, vẫn đáp ứng được cái giấc mơ của mọi người.

Gắn căn nhà, sẽ rất là cũ kỹ này, với giấc mơ hôm nay. Tại sao? 

Giản dị lắm. Tôi thấy ở đó, người ta có cuộc sống thoải mái với cái riêng tư có được. Nhà thì biệt lập. Sân trước, sân sau. Cuộc sống là cuộc sống của mình.

 Người ta ngăn nhau, giữa nhà này với nhà kia, bằng những hàng dậu thưa.

 Phần lớn trồng bằng cây “dâm bụt,” cắt thấp. 

Những hàng dậu thưa hệt như trong cảnh trí được vẽ lên qua câu hát “ Bên hàng dậu thưa. Một đoàn trai tráng. Cùng nhau ca vang câu tình quê.”  

 Hay rất giống với“ cái dậu  mồng tơi xanh rì.” Của

                                                  “ Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

                                         Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rì. (Thơ Nguyễn Bính)

Tôi không cố tình thi vị hóa. 

Cảnh trí thật sự nó như thế. Người ta không cần phải vất vả hay làm dáng,  vác theo cái đờn “ Chu prong “(?) và leo lên hay trốn vào núi cao, rừng thẳm như Trần Tiến, mới hát toáng lên được là

  “ Ở nơi ấy. Có hai người…… yêu nhau!!!)

 và mới có  “ Đàn dê … nhỏ nhấp nhô quanh đồi.”  ông cho là hiếm khi thấy. ( Cây đàn Chuprong,” nhạc Trần Tiến.)

 

 

Trong căn nhà những người dân cạo mủ cao su sống thường ngày nơi đây. Họ có đủ hết.Yêu thương, hờn giận, sung sướng, cực khổ. Chả từ một thứ gì. 

Kể cả đàn dê của ông nhạc sĩ Trần Tiến. Họ có quyền nuôi gà, heo, dê, thỏ, vịt, ngỗng…tha hồ. 

Cây trồng cũng đủ thứ. 

Bởi vì trong căn nhà đó có một gia đình. Người ta dành cái nhà ấy cho một gia đình. Bên trong nó họ sống đời của riêng họ.

Và đã sống thì sao khỏi có cảnh

                 ” Ngày xưa bên dậu vàng hoa

             Chiều chiều kê chỏng nằm ra ngó trời

                   Năm sau em bỏ đi rồi

             Ta về ngồi lắng mưa rơi dậu buồn.”

Ông Trần Tiến một nghệ sĩ âm nhạc đất Bắc khi cùng Bắc quân tiến công chiếm miền Nam. Ông chắc có đi qua nhiều nơi chốn có người miền Nam ở.  Cái cảnh 

"Ngày xưa bên dậu vàng hoa

Chiều chiều kê chỏng nằm ra ngó trời

Làm gì đất Bắc của ông không có.Là chuyện thường.

Ngặt nỗi. Năm  sau,  Năm sau em bỏ đi rồi

Ta về ngồi lắng mưa rơi dậu buồn.”

Tôi nghĩ với tâm hồn nghệ sĩ, ông đủ cảm thông để thấy ngay ở  hai bên bờ dậu. Một đời sống ngồn ngộn tuôn trào ước mơ tình yêu, của lứa đôi, của sum họp, của gia đình.

Ngồi lắng mưa rơi dậu buồn,...Khác gì đâu tiếng đàn kìm man mác nghe trên sông, như trong bài hát giọng miền Nam của ông. Có buồn có vui. Đời sống, giữa người và người.

Cớ sao, người bỏ phố lên rừng. Tên một bản nhạc nghe đâu đó, sau 75. Không nhớ. Chỉ nhớ mãi cái bùi ngùi, tiếc nuối. Bùi ngùi. Tiếc nuối. Những gì đã mất. 

Con người? Tình người?

Sao ông phải tìm nơi chốn để có tình yêu mà ông ca ngợi, là chỗ không có con người. Con người nào, ở nơi nao,  đã làm nản lòng ông? Tránh họ. Ông đi “giải phóng” chúng tôi. Cây đàn mang theo. Có tấm lòng nào của tình người? Hay như ngọn bút sắc lẻm cứa cạnh của Dương Thu Hương khi bà “Tiến vào Sài gòn, ta quét sạch giặc thù.” Lưu Hữu Phước mớm lời cho?

Con người ở cái đồn điền này. Họ bình lặng sống. Êm ả,...Chắc là, họ cũng sẽ phải tiếc nuối, bùi ngùi. Nếu phải bỏ...lên rừng! 

Rất nhiều người miền Nam chúng tôi, bùi ngùi, bỏ phố lên rừng,  như bỏ đất nước,...

Cớ sao người...bỏ phố...

… Cái ở của họ, những người dân phe mình, dường như chẳng dính gì tới “ cái ở “ của hai ông Tây. Các ông Tây ấy tìm đâu cho ra. Cái ổ của đơn giản....Năm sau em bỏ đi rồi Ta về ngồi lắng mưa rơi dậu buồn.”

  Mà rất tĩnh tại. Cái tĩnh của triết Đông phương. Ta về ngồi lắng mưa rơi dậu buồn. Còn biết làm gì! Làm gì hơn?  Kê chỏng nằm ra ….ngó trời. Mà đã....

Còn bây giờ.. Ta và cái buồn, ( của ta? ) Hay vì mưa rơi, nên dậu buồn? 

Nào ai biết. Biết, để làm gì? Có gì để nói?.. 

Đến cái ăn. Nói về cách ăn uống khác biệt giữa Tây và Ta. 

Nào là muỗng, nĩa. Nào là dỉa nhỏ dỉa to. Nào là dao, là, …là dao,...đủ cỡ,  đủ thứ. 

Đó là đồ dùng!

Chưa nói đến cách dùng! Cái nào dùng cho cái gì. Cái nào dùng lúc nào!

Nhưng chỉ một thí dụ này thôi. Cách ăn, tôi muốn đưa ra ngay cho mọi người thấy để khỏi phải mất công tìm hiểu lâu lắc. 

Trong một lần Ba tôi khoản đải đội banh. Dịp này, món chính là món bò tơ nướng trên lửa. Thường ra, phe ta chờ lửa làm thịt bò tái đi thì mới dùng dao lóc thịt để ăn.  

Lần đó, Ba tôi có mời hai người ngoại quốc ”

  Với tiết và lòng, thay vì ông Tây mà là đồng bảo tôi thì rất nhiều người sẽ nghĩ ngay tới món tiết canh. Tôi biết đồng bào tôi khi dùng món tiết canh của mình. Họ luôn nghĩ, món ăn đã hội đủ vào đó tất cả những tinh túy, những nghệ thuật  nấu nướng, những hiểu biết dược liệu cỏ cây, những khắc chế, trừ khử cần thiết.” Đâu vào đấy!” Có âm có dương. Có nhiệt có hàn,...

Có đâu lại “ bổ bả, hời hợt kiểu thịt sống, máu tươi. Gớm thế!” 

Đã bảo, Đông,Tây có bao giờ gặp nhau đâu mà lo.

Chỉ  vì ông Phó, với cái văn minh, cái gì tươi mới ngon, mới bổ. 

Huyết bò vừa hứng. 

Gan bò tơ. Vừa mới mổ. 

Còn có gì hơn. ( Gan bò tơ Hòa Lan. Nhớ không? Một quảng cáo thuốc bổ trên phát thanh. Ngô Bảo. Chỉ nghe được khi còn ở Sài gòn!)

Nên ông, ngoạm một miếng gan tươi. 

Lại. Chiêu một ngụm huyết bò tươi. Vừa hứng ngay từ cổ con bò. Một dòng máu đỏ, chảy vọt ra theo nhát dao đâm, “ cắt tiết…”  

Hể hả. 

Trong cái nhìn..khinh khỉnh (.khinh khi ) của những người các ông nghĩ các ông đang khai hóa họ.

Thành ra là người ngoài, mà là người ngoại quốc nửa.  Cách sống, cách ăn, ở dù khác nhau rất xa. Nhưng không chung đụng. Ảnh hưởng chẳng có gì nhiều.

Làng còn có hai người “ngoài làng” khác. 

Họ là hai vị nữ tu Công giáo.Họ đến sống trong làng với nhiệm vụ dạy học cho lũ trẻ con chúng tôi. Họ đều là người Việt Nam. Họ xưng hô và gọi nhau là Dì Ba, Dì Chín, như là hai chị em. Cùng ngụ trong một căn nhà giống với nhà của những công nhân trong làng.Sau những giờ dạy học, gần như họ ở hẳn trong căn nhà đó của mình. Ít khi thấy họ ra ngoài.Cũng Ít khi thấy họ giao tiếp với người khác Đời sống tu trì, khép kín làm họ sống một lối sống rất riêng. Cùng sống trong làng, mà họ như không có ở đó, với cái nhìn của một số những người lớn khác. Họ rõ ràng, góp thêm cái tịch lặng. Cái góp thêm làm  nên những giao thoa và cộng hưởng khi có sự đồng bộ, giống tần số. Và do cộng hưởng, cái tịch lặng như càng tịch lặng hơn. Rõ nhất, khi ta có dịp đến gần bên họ, Cái tịch lặng, ai cũng thấy, quanh đây và bây giờ. Chỉ thêm hơn lên. Bên cạnh nét đạo hạnh. Không có chỗ cho những bon chen, kèn cựa, vọng động, huyên náo,….  “ người thường. “

Hai bà này có cõi riêng của họ. Như không dính gì đến ai. Kiểu, có mà như không!

Với lũ trẻ chúng tôi. Chuyện lại khác.

Họ vẫn sống đời khép kín tu trì. Họ vẫn nguyên si trong bộ áo dòng. Từ đầu tới chân một màu đen kịt. Đen từ tấm trùm đầu, hai bà gọi là cái lúp.Đến chiếc áo dòng dài phủ gót. Mà vải thì thô ráp, dày cui.

 Họ vẫn cử động chừng mực, từ tốn. Đi đứng vẫn nghiêm trang. Mọi cái ở họ vẫn nguyên si.

Chỉ khi hai bà đến với chúng tôi. 

Từng lúc, từng chuyện, chúng tôi gặp những cái khác lạ của hai bà. Làm khác lạ đời sống chúng tôi.

Hai bà là những nữ tu. Người ta gọi họ hoặc là Dì phước, hoặc là Bà phước. Chúng tôi xưng hô với hai bà theo với cách đó hơn là cách phân biệt Bà – Cháu.

 Bà Ba là người có tuổi. Bà Chín, trẻ hơn.

 Ở hai bà, như có sự phân công. Bá Ba chỉ đảm trách một ít công việc. Bà Chín phải dính vào nhiều thứ hơn. Những…,nếp sống văn minh bên ngoài, những điều cần biết. Tất cả những điều cần trang bị cho lũ trẻ chúng tôi. Đều qua tay bà, Dì Chín. 

Chữ nghĩa. Tiếng Tây, tiếng Ta. Giao thiệp, chào hỏi. Tây ta đề huề. Lễ phép á Đông. Lịch thiệp âu Tây. Một tay dì Chín.

Toán pháp, cộng trừ nhân, chia. 

Cách tính lời, tính lỗ. Tính cái nhanh, cái chậm của vận tốc xe đạp,....Cũng tay bà phước đó. Rồi ,...Cửu chương,...

Rồi. Thể dục, vệ sinh,...thường thức. Những cái bắt đầu của đời sống văn minh.

Rồi. Ca hát,...

Bao nhiêu cái lạ. Từ bên ngoài. Đến với chúng tôi. Nhưng chỉ khi có bà. 

Vắng bà. Chúng tôi lại  chơi đánh trỏng, đánh khăn. Lại tạt lon, lại đá dế,..

như...xưa.

Ngẫm lại.

Chỉ có ba tôi. Thầy Ba, có ít nhiều ảnh hưởng trên đời sống của những người dân ở đây. Những cái hiếm khi xảy ra. Như lần cọp về làng. Trong đời sống những người ở đây, có  bóng dáng ba tôi.

Những việc như là một nhóm người muốn ông giúp họ lập nên một đội bóng tròn. 

Ông giúp. 

Advertising
Advertising
Bình luận Facebook

Bình luận trực tiếp

Về đầu trang